Saturday, July 3, 2010

CHƯƠNG VIII - MƯỜI LOẠI MA SỰ

Sư nói: Ngộ đạo tu thiền chẳng phải là việc nhỏ. Những loại ma trong, ma ngoài làm não loạn chánh định, một chút không chủ tể, liền tham trước cảnh ái, do cảnh kích động mà rơi vào lưới ma. Vốn là nhơn lành mà trở lại phải chuốc quả ác. Kẻ sơ học đời sau hãy cẩn thận và đề phòng vậy.

Tôi xin nêu ra mười điều đã biện biệt về nghĩa ma. Tự soi tự xét về thiên ma và tâm ma. Dùng huệ quán chiếu tiêu diệt ma nghiệp. Tâm cấu nếu tịnh các chướng tự nhiên dứt, sợ gì thiên ma nào dám loạn chánh? Nay đem mười loại ma và thuật rõ ràng ở sau: một là ma túc oan, hai là ma ngoại hoặc, ba là ma phiền não, bốn là ma sở tri, năm là ma tà kiến, sáu là ma vọng tưởng, bảy là ma khẩu nghiệp, tám là ma bịnh khổ, chín là ma hôn trầm, mười là thiên ma. Mười loại ma chướng nầy hay làm nhiễu loạn người tu hành chơn chánh. Người ngộ đạo nên thận trọng đó.

HỎI: Thế nào là ma túc oan?

ĐÁP: Ma túc oan gọi là nghiệp chướng. Từ những kiếp lâu xa cho đến đời nầy, sanh ra trong kiếp phàm phu, bất trung bất hiếu, bất nhơn bất nghĩa. Sát sanh trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, tham lam, giận dữ và si ái. Kết nhiều oan gia, ngày nay gặp gỡ, muốn học đạo lớn bị chúng xâm nhiễu chẳng an, hay làm chướng việc thánh, chẳng được thành tựu. Phải sanh tâm quý chí thành sám hối, tha thiết cầu tam bảo buông sức thần gia hộ. Tất cả những nghiệp từ trước tự tiêu tự diệt, tất cả oan gia tự lui hay tan mất, mau được vô lậu, chóng làm lợi khắp chúng sanh, mau được vô lậu, chóng chứng bồ đề. Người tham thiền phải tự sám hối đó.

HỎI: Thế nào là ma ngoại hoặc?

ĐÁP: Ma ngoại hoặc (làm ngoại hoậc bên ngoài), gọi là nhơn chướng. Kẻ tiểu nhơn không có căn lành, sang hèn chẳng đồng, làm não loạn định tâm chẳng được an ổn. Việc nầy không riêng một cớ nào, tất cả đều do thiếu quyền biến, hoặc kém lễ nghi, hoặc do tự cao, hoặc tự ngã mạn, hoặc nói thẳng, hoặc hạnh thô, hoặc nương thế lực, hoặc khoe tài, hoặc nói ác, hoặc khen mình,hoặc chê người, hoặc thiếu vẻ ôn hoà, hoặc không cung kính, hoặc độ lượng không rộng rãi, hoặc thiếu nhẫn nại. Cho nên chuốc cái chẳng tin mà hoặc loạn sự tu hành, sanh tâm động niệm, che lấp cái bản minh. Kẻ sĩ một đạo cần yếu phải thấp xuống mà lui về nuôi đức, mới khỏi được nhơn chướng. Kẻ hậu học đời sau phải khoan tâm và nhẫn nại đó.

HỎI: Thế nào gọi là ma phiền não?

ĐÁP: Ma phiền não là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ hay làm lộn xộn việc chánh tu. Thế nào là phiền ? Thế nào là não ?

Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, não thì sanh ở nội tâm. Người tu thiền nhứt định phải đoạn phiền não. Phiền não chẳng trừ sạch tánh định khó hiện. Thấy người nữ mà sanh tâm là dâm tâm phiền não. Thấy sự giết hại mà sanh tâm là ác tâm phiền não. Thấy tài lợi mà sanh tâm là đạo tâm (tâm trộm) phiền não. Thấy vật mà sanh tâm là tham tâm phiền não. Thấy người sanh khinh thường là ngã tướng phiền não. Thấy kẻ thấp sanh kiêu ngạo là tự đại phiền não. Thấy nghịch cảnh sanh sân là khuể tâm phiền não. Thấy thuận cảnh sanh vui là tùy hỷ phiền não. Thấy kẻ oán sanh tâm ghét là hận tâm phiền não. Thấy người thân sanh thương là tư tâm phiền não. Tất cả những cái thấy bên ngoài mà bên trong sanh thủ xả đều là phiền não, không thể nào mà nói ra cho hết được. Kẻ tham thiền nhất định phải trừ sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không (rỗng) làm não loạn chánh định. Người học đời sau, tại sao chẳng đoạn nó ?

HỎI: Thế nào gọi là ma sở trị?

ĐÁP: Ma sở trị gọi là lý chướng, lý chướng nếu chẳng trừ hay làm loạn chánh định. Sở tri là thế nào mà lỗi như thế? Biết (tri) ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý, biết ta học nhiều, biết ta hiểu nhiều, biết ta trì giới nghiêm túc, biết ta được định, biết ta phát huệ, biết ta được thần thông, biết ta được lẽ mầu, biết ta chứng đạo, biết ta thành Phật, muôn ngàn điều biết (Sở tri) gọi đó là lý chướng. Lý chướng nếu chẳng trừ pháp chấp chẳng quên. Pháp chấp chẳng quên thì chơn tâm chẳng hiện. Người tu thiền định nhứt định phải dứt trừ lý chướng.

HỎI: Thế nào là ma tà kiến?

ĐÁP: Ma tà kiến là chấp chướng. Chấp chướng chẳng trừ ắt rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào mà loạn chánh định như vậy? Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến (thấy có). Chấp tánh vốn không (rỗng) gọi sự chấp ấy là vô kiến (chấp không). Chấp vốn không chết gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp theo khí mà diệt gọi sự chấp ấy là đoạn kiến. Chấp từ không sanh ra có là tự nhiên kiến. Chấp từ khí (hơi) hóa ra hình là tà nhơn kiến. Tự như chẳng có chẳng không, tức có tức không. Tất cả những tà chấp, tà kiến nhơn duyên tự nhiên… đều chẳng lìa không hữu, đoạn thường hai đầu. Tự chướng bốn lý đến rơi vào đường tẻ. Người tham thiền phải biết mà ngộ lẽ nầy.

HỎI: Thế nào là ma vọng tưởng?

ĐÁP: Ma vọng tưởng gọi là Tự chướng. Tự chướng chẳng không (rỗng), thì sanh diệt chẳng dừng, điên đảo tán loạn, che chướng bản tâm. Người tham thiền cần phải làm cho rỗng không cái chướng nầy. Nay nêu ra một hai điều để làm sáng tỏ cái vọng chướng, như: vọng tưởng ngộ đạo, vọng tưởng tu chứng, vọng tưởng đắc định, vọng tưởng phát huệ, vọng tưởng nhiều hiểu biết, vọng tưởng hay làm văn, vọng tưởng về danh đạt, vọng tưởng về sự cúng dường nhiều, vọng tưởng làm thầy, vọng tưởng chư tăng qui hướng, vọng tưởng tiếp nối tổ vị, vọng tưởng trụ một ngôi chùa, vọng tưởng hoằng đạo, vọng tưởng về tác phẩm lưu truyền, vọng tưởng về kẻ nối dòng, vọng tưởng về sự nhập tháp, vọng tưởng thần thông, vọng tưởng huyền diệu, vọng tưởng kỳ đặc, vọng tưởng quái lạ, vọng tưởng trường sanh, vọng tưởng hoàn đồng, vọng tưởng bay lên, vọng tưởng thành Phật,… các vọng chẳng không (rỗng), động niệm làm trái với lẽ nhơn. Người mới học mộ đạo dứt vọng làm gốc.

HỎI: Thế nào là ma khẩu nghiệp?

ĐÁP: Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng, nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm, thì tán tâm loạn niệm chẳng được tịnh tâm. Khẩu nghiệp do đâu mà lỗi nó quá nhiều? Bởi ưa bàn huyền nói diệu, giảng giải (kinh), nói tông (thiền), tự khoe rằng đã được ngộ, chê kẻ khác ngu mê, luận về sở trường sở đoản của người, nói sự phải quấy của người.ngâm thi vịnh phú, mở miệng xướng càn, bình luận chuyện xưa nay, bàn chuyện đất nước hưng phế, xưa kia là người hiền kẻ ngu, nay là kẻ ác người thiện. Chẳng quan hệ đến việc ta mà rống lời tranh luận chuyện được mất của người. Vô cớ chê khen, nói những cảnh dục khiến người sanh yêu. Nói chuyện bất bình khiến người sanh giận. Chê sau lưng, khen trước mặt. Tất cả những lời nói lợi hại khiến người quên mất chánh niệm. Người tham thiền cần yếu phải gắng gìn giữ, chẳng những ít lời nuôi đức mà lại khiến tâm chẳng loạn. Kẻ sơ cơ tu hành cẩn thận và kiêng giữ việc nầy.

HỎI: Thế nào là ma bệnh khổ?

ĐÁP: Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều tật bệnh đều do nghiệp đời trước, hoặc do mất sự điều hoà mà biến sanh trăm thứ bệnh, chẳng được thọ dụng, làm cho người học đạo có sự chướng ngại. Nay tôi nêu lên mấy điều phải tự đề phòng: Điều hoà tỳ vị, tiết chế và chọn thức ăn uống, ít đắm mùi vị nồng hậu, lại phải cữ vật sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, lúc no chớ gánh vác nặng. Sau khi ăn chớ ngủ, tối cữ ăn no, thích ăn đồ thối nát, ưa ăn đồ chiên đồ xào, thích ăn ngũ vị, dùng nhiều vật quấy. Toạ Thiền nơi đất ẩm, ngủ nơi chỗ gió, đang ra mồ hôi mà nhảy vào nước, thích ấm tham mát, đang lúc gió mà tắm rửa, nằm trần ngoài trời, đói quá no quá, vui quá giận quá, lạnh quá nóng quá, mưa lớn sương nhiều. Bịnh nội thương ngoại cảm, tất cả đều do mất sự điều hoà nên sanh những bệnh hoạn, làm cho thân chẳng được yên. Kẻ hậu học phải biết mà dự phòng và tránh bệnh.

HỎI: Thế nào là ma hôn trầm?

ĐÁP: Ma hôn trầm gọi là thuỳ chướng (chướng về ngủ). Thuỳ chướng chẳng luyện trừ, hôn trầm quá nặng, chơn tâm chẳng sáng, huệ tánh chẳng phát khởi, rơi vào chỗ mờ tối của núi đen và hang ma. Nguyên nhơn của bệnh hôn trầm kia như thế nào? Sự hôn chướng nầy phần lớn cho ăn nhiều, tham nhiều vị ngon, nói nhiều làm tán khí, hình lao tì yếu, tinh thần chẳng trong lặng, độc khí hỗn loạn, ngu si nhiều giận tức, lười biếng buông lung. Chẳng nhớ nghĩ việc sanh tử chỉ tham an lạc. Kẻ hậu học khi dụng công nên phát tinh tấn: mang dùi chích thịt, cho đầu chạm vào cây cột, lễ Phật đốt đèn, đứng nơi nguy hiểm, đi kinh hành, khổ thân mài luyện ma ngủ mới nhẹ, nếu chẳng như vậy mặc tình ngủ nghỉ, thì chơn tâm chẳng sáng. Người tham thiền nên dũng mãnh hàng phục ma ngủ.

HỎI: Thế nào là đại thiên ma?

ĐÁP: Đại thiên ma chẳng đồng với các chướng. Bởi do tu hành đúng đắn, sắp chứng đạo quả, tâm tinh thuần thông suốt, lặng yên chẳng động, làm kinh động thiên ma và cung điện của quỉ thần đều sụp đổ, cõi đất rung động, ma chúa kinh hãi, loài yêu quái ở cây, ở đá cũng hoảng sợ. Tất cả loài ma mị đều có ngũ thông đồng đến não loạn, chẳng cho người vào thánh vị. Chúng biến ra những điều quái lạ, hoá ra những cảnh dục để làm loạn thiền định của người tu. Người tu nếu tâm sanh ra thủ xả ma liền được tiện lợi, mà người tu thì thọ hại. Tự phát điên cuồng, cho là đã thành Phật. Còn sống thì bị hãm vào nạn vua, lúc chết đoạ vào vô gián ngục. Kẻ sĩ tham thiền chánh niệm rõ ràng, trí huệ chiếu sáng, một lòng chẳng động, mặc tình chúng tác quái ta chẳng thèm thấy nghe, dùng chánh định hàng phục, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải cẩn thận và tự phân biệt cho rành rõ ma sự nầy.

Ở trên đã được nên lên mấy điều ma sự, nếu muốn hiểu cho khúc chiết rõ ràng, nên xem kinh Lăng Nghiêm nói về ma nghiệt trong ngoài. Tất cả những dị kiến, mỗi mỗi đều rõ ràng, khi hạ thủ dụng công chẳng rơi vào lưới ma, mà chứng thẳng qủa Phật.


http://my.opera.com/DANGLAM/blog/2009/11/15/chuong-viii-muoi-loai-ma-su

PHIỀN NÃO LÀM SAO TRÁNH ?


Bạn sẽ làm gì khi cuộc sống trao cho bạn những phiền toái không thể ngờ? Khi những dự tính không theo ý muốn? Bạn có chấp nhận nó như là thực tế của cuộc sống và hiểu cuộc sống thỉnh thoảng là như vậy? Hay là, bạn sẽ bắt đầu phàn nàn về tất cả những bất công ấy? Có lẽ bạn sẽ giống một bác nông dân nọ trong quá trình gắng sức tìm cách tránh né những điều phiền não đã tìm thấy lời khuyên của Phật.

câu chuyện ấy nói về một bác nông dân luôn phàn nàn. Bác kể với Phật rằng cuộc sống của bác khó khăn làm sao.Nào là dường như thời tiết chẳng bao giờ thuận theo ý muốn của bác, khi thì hạn hán, khi thì lũ lụt, làm cho mùa màng thường thất bát. Bà vợ của bác cũng thế, dù là một phụ nữ tử tế, nhưng cứ càm ràm bác hoài, và gần đây thì lũ trẻ lại tỏ ra vô ơn với những gì bác đã làm cho chúng. Hơn nữa, những người hàng xóm thì cứ ngồi lê đôi mách và chọc mũi vào công việc của bác.

Bác nông dân kết thúc một loạt những phàn nàn, ngước nhìn Phật mong ngài giúp cho một giải pháp và thật ngạc nhiên khi thấy Phật nói không thể giúp gì cho bác. Theo ngài thì chúng sanh có 83 điều phiền não và cuộc sống diễn ra như thế. Trong khi mình đang gắng sức giải quyết những phiền não này, thì những phiền não khác lại nảy sinh. Nghe những điều này, bác nông dân càng khó chịu hơn, bác hỏi: “Vậy có điều gì hay ho trong những lời giáo huấn của ngài?” Phật đáp “Giáo pháp của ta không giúp ông giải quyết được 83 điều phiền não, nhưng có thể giải quyết điều phiền não thứ 84”. “Đó là gì thưa ngài?” Bác nông dân hỏi. Phật nói: “Điều phiền não thứ 84 là ông không muốn có bất kỳ một phiền não nào”

Điều này không lạ lùng gì phải không? Bạn có trải qua điều phiền não thứ 84 này và tự làm mình khốn đốn hơn là thực chất của những phiền não bạn đang có không? Nếu vậy thì tin vui cho bạn là phiền não này có thể giải quyết được đấy. Tất cả mọi điều bạn có thể làm là học cách chấp nhận cuộc sống như chính nó vốn có, khó khăn và tất thảy.

Chấp nhận cuộc sống có những phiền não không có nghĩa là buông trôi trong tuyệt vọng. Mà đơn giản hãy quán rằng đã là loài hữu tình thì không thể tránh được những nỗi khổ và đó là chuyện rất thường. Ngay thật sự chính những người “vinh hoa phú quí” mà chúng ta tưởng tượng cũng gặp đầy những phiền não mà cuộc sống trao cho, chúng ta nhận ra được điều đó khi có một bi kịch giáng xuống họ. Lúc đó chúng ta ngạc nhiên rằng sao mà họ giống chúng ta đến thế. Phiền não đó cảm hóa họ, và chúng ta thấy rằng mọi người đều giống nhau trong cuộc chơi này.

Một khi chúng ta chấp nhận tính tất yếu của phiền não, cái thách thức chính là cứ tiếp tục bận tâm đến những phiền não mà ta có. Sự tồn tại tất yếu của những phiền não không có nghĩa là có một số phiền não không thể giải quyết, và chúng không bao giờ buông tha.

Lần sau nếu bạn đang u buồn với những phiền não của cuộc sống, hãy nhớ đến điều phiền não thứ 84. Chấp nhận rằng cuộc sống luôn có những phiền não, bạn đã loại bỏ đi bớt một điều phiền não phải đương đầu rồi

http://my.opera.com/DANGLAM/blog/show.dml/4773601

HÃY NHÌN LẠI ......!

Phần lớn những khổ đau của ta phát sinh từ liên hệ giữa ta với người thân hoặc những người xung quanh. Người đó có thể là người bạn hôn phối của ta hay là con của ta, hoặc cha mẹ, anh, chị, em, thầy hay là huynh đệ của ta.... Nguyên nhân nào đã gây nên khó khăn trong những mối quan hệ ấy?

Mất chánh niệm. Do không giữ được niệm mà ta cứ sống nông nổi, không tiếp xúc sâu sắc với những gì xung quanh ta trong mỗi phút giây của đời sống. sống trong quên lãng, không duy trì được sự thực tập miên mật. Ta quên bẵng đi sự có mặt của những người thương, những người xung quanh ta. Sống với ta mà họ có cảm tưởng như đối diện với một bức tường, hoặc còn tệ hơn sống với người dưng nước lã. Hoặc ta có quan tâm, nhưng chỉ để lấy chiếu, lấy lệ, chưa được sâu sắc lắm. Quan tâm kiểu như vậy, chẳng thà đừng quan tâm. Càng quan tâm càng khiến người khác tổn thương. Thiếu nội dung của sự quan tâm, ta đâu thấy được những vết thương của những người bên cạnh. Ta cứ ngang nhiên chọc vào vết thương ấy bằng lời nói, hành động theo tập khí của mình. . Thử hỏi hạnh phúc và bình an làm sao có được nơi ta, nơi người. Chẳng những hạt giống tốt mỗi ngày mỗi lụi tàn, mà hạt giống xấu thì tha hồ mà “tươi tốt”. Nhưng vì thiếu chiều sâu của đời sống tâm linh, chẳng thấy được “công đóng góp phần lớn” vào đổ vỡ ấy là của mình. Ta tiếp tục lý luận theo thói quen để đổ lỗi cho người
kia. Dù vẫn biết lý luận có hay đến mấy cũng chẳng đem lại kết quả gì mà càng làm cho hố ngăn cách giữa ta với người thêm rộng, nhưng ta vẫn tiếp tục lý luận. Hiển nhiên là nội kết sẽ hình thành nơi ta và nơi người - Nội kết là những khổ đau do lâu ngày không chuyển hoá được, kết lại thành khối trong chiều sâu tâm thức; nó thầm điều khiển mọi hoạt động của chúng ta. Và ta không muốn nhìn mặt người, người cũng không muốn thấy mặt ta. Sự chán ghét thể hiện rõ rệt trên khuôn mặt của cả hai. Không hạnh phúc khi gặp nhau thì đâu muốn gặp nhau. Cũng như không biết sử dụng ái ngữ khi nói chuyện với nhau nên ta cảm thấy không có hạnh phúc. Không có hạnh phúc thì sẽ không có mong muốn, hứng thú lắm để nói chuyện với nhau.

Có đôi lúc chúng ta cũng biết nhìn lại những lỗi lầm của chính mình, nhưng lại để cho tâm mình rơi vào trạng thái dằn vặt bởi mặc cảm tội lỗi mà không phải là sự ăn năn. Dằn vặt là thứ hối hận không có lợi. Trong 51 tâm sở, có tâm sở gọi là hối. Đây là tâm sở bất định, vì nó có thể xấu hoặc tốt. Nó là tâm sở thiện khi nó có nghĩa là sám – là khả năng nhận diện được những lỗi lầm và quyết tâm không lập lại. Còn nếu chỉ là mặc cảm tội lỗi, luôn đeo sát mình thì nó là tâm sở bất thiện. Dằn vặt tạo ra sự khổ đau. Dằn vặt tạo ra sự dày vò. Cụ thể trước thực trạng khó khăn của bản thân và mối quan hệ với người khác ngày thêm xấu, ta nghĩ rằng, không còn cách để chuyển hoá, để vượt thoát lên được. Ta hết hy vọng. Tâm tư ta bị tràn ngập bởi cái buồn, cái chán và cái lo âu. Buồn vì không thấy được niềm vui trong cuộc sống, ta sinh ra chán nản không còn nghị lực để đi tới. Buồn và chán là năng lượng tiêu cực làm ta khổ đau và không còn muốn sống. Lo âu vì chưa biết cách chuyển hoá nghiệp cũ .Thế nên .



Người biết cười là người biết nghệ thuật sống vui. Hẳn nhiên không phải chỉ có nụ cười mới tạo nên nghệ thuật sống vui. Nhưng nó là công cụ rất đắc lực giúp cho đời sống mỗi người thêm đẹp. Một ánh mắt, cái nhìn kèm theo nụ cười dễ thương luôn tạo được thiện cảm. Ta đang mơ màng, phiêu lãng, nụ cười ý thức giúp ta quay về hiện tại, quay về với chính ta. Nụ cười ý thức là niềm vui, là tình thương, là hạnh phúc. Nếu nụ cười kết hợp với hơi thở ý thức thì nụ cười sẽ thật hơn, nhẹ nhàng hơn và bền bỉ hơn. Nụ cười như vậy làm ta vui lên lập tức. Những căng thẳng trên khuôn mặt được thư giãn, những nếp nhăn trên trán được xoa dịu. Những phiền muộn trong tâm được vơi bớt. Nếu ta thường xuyên đem tặng nụ cười ấy cho những người thương của mình, những người xung quanh mình thì chắc chắn khoảng cách giữa ta và người sẽ được rút ngắn lại.


http://my.opera.com/DANGLAM/blog/hay

NỔ LỰC CÔNG PHU

Thật cũng lạ. Có những người làm việc mà cũng chẳng rõ công việc của mình là gì. Giống như con buôn, những kẻ ngày đêm lăng xăng bận rộn lo cho chuyện buôn bán của mình đến nỗi đêm ngủ không yên giấc. Đó gọi là thức khuya dậy sớm lăng xăng vì đồng tiền. Cho đến những kẻ sĩ, nông, công, thương, bởi vì muốn thành công nên không còn tự chủ, phải thức khuya dậy sớm.

Là người tu Đạo, chúng ta cần phải thức khuya dậy sớm, không vì lợi mà bận rộn cũng chẳng vì danh mà lăng xăng. Mình phải vì Pháp mà bận rộn. Mình phải "Túc dạ phỉ giải, dĩ sự chư Phật" nghĩa là ngày đêm không mệt mỏi phụng sự chư Phật. Mình phải dậy sớm thức khuya ngày ngày lễ Phật, tụng kinh để biểu thị tâm trung thực, lòng chân thành của người con Phật. Đây không phải là lòng nghĩ một đằng mà miệng nói một nẻo, hoặc nói mà không làm.

Khi lạy Phật phải chuyên tâm thành ý, vì lạy Phật có thể tiêu trừ tội chướng. "Phật tiền đảnh lễ tội diệt hà sa," nghĩa là đảnh lễ trước mặt Phật tiêu tội nghiệp nhiều như cát sông Hằng. May rằng tội không có hình tướng, nếu như có thì sẽ nhiều như cát trên sông Hằng vậy. Do đó mình phải thức khuya dậy sớm lễ Phật, niệm Phật, cầu cho tội chướng của mình tiêu trừ; mình nên vì Pháp mà bận rộn.

Thật khó mà đo lường bản tính của chúng sanh. Ví như những kẻ thích ăn ngọt mà cho họ đồ chua thì họ không thích, không vui. Kẻ thích đồ chua mà cho đồ ngọt thì y lại chẳng vui mừng. Đối với hạng người như vậy, nếu không biết phẩm tánh của họ thì khó có thể độ họ được. Bởi vì Phật có trí huệ, Ngài biết được căn tánh của chúng sinh, nên tùy nghi ứng hóa, bôn ba không ngại lao khổ để độ chúng sinh. Song le, chúng sinh không những chẳng sinh lòng cảm động, lại còn chẳng chịu tiếp thọ sự dạy bảo của Phật Bồ-tát. Cho nên nói rằng: "Chúng sinh nan độ phả kham thương." Nghĩa rằng chúng sinh khó độ chẳng đáng thương sao? Chữ "thương" ở đây có nghĩa là bi thương. Vì chúng sinh ngu muội, điên đảo nên chư Phật Bồ-tát mới sinh lòng xót thương vậy.

Tại sao chúng sinh lại khó độ như vậy? Đó là bởi "mê chư trần lao tánh điên đảo." Nghĩa là bị trần lao làm cho mê hoặc, điên đảo. Đó là lời giải đáp. Bởi vì chúng sinh, trong vô lượng kiếp đã bị lục trần làm cho nhiễm ô sâu đậm. Lặn hụp trong biển khổ, triển chuyển trầm luân, điên đảo, ngược ngạo, lấy sự khổ làm niềm vui, lấy điều sai cho là đúng. Ví như ngày nay con người ưa thích ăn mặc theo thời trang, chẳng những không có chút trang nghiêm nào mà còn sinh ra nhiều hậu quả không tốt về sau. Người đời ai ai cũng biết nhưng đều phạm vào cái lỗi đó. Ai ai cũng tranh giành, ganh đua, không biết rằng biển khổ thì vô biên, nhưng quay đầu thì sẽ tới bến. Cũng giống như những võ khí chiến tranh bây giờ, loài người chẳng những không hủy bỏ chúng đi mà còn mỗi ngày tìm cách làm cho chúng thêm tinh xảo, nổ lực phát minh ra những thứ giết người cho thật tối tân, thật tinh vi. Quý-vị xem, đây không phải là chuyện điên đảo thì là gì?

Bởi vì sự điên đảo của chúng sinh cho nên tất cả các vị thánh nhân, thiện-tri-thức đều hết lòng khuyên dạy chúng sinh; giống như người lớn dạy đứa trẻ con, kéo tai mà huấn dụ. Dù vậy, chúng sinh cũng chẳng chịu nghe theo; thậm chí còn tìm trăm phương nghìn cách để che dấu tội lỗi của mình, không cho kẻ trên biết. Đây thật chính là "Nhĩ đề diện mệnh hóa vô phương." Nghĩa là kéo tai, chỉ vào mặt để dạy nhưng cũng không sao dạy được.

Ôi! Bản lĩnh phạm tội của chúng sinh thật vô song; ngay đến Phật Bồ-tát còn cảm thấy khó độ chúng sinh. Quý-vị thấy có thật đáng bi thương chăng?


http://my.opera.com/DANGLAM/blog/no-lu