Wednesday, April 27, 2016

Quán Từ Bi để trừ lòng sân giận hận thù


  Từ là cho vui, Bi là cứu khổ diệt khổ, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho tất cả mọi loài chúng sanh, đó là hành động lợi tha cứu đời.
 Từ Bi không phải là thụ động yếm thế nhu nhược mà nhiều người lầm tưởng rằng hễ có lòng từ bi, ai muốn làm gì dù phải trái cũng im lặng nghe theo. Thực ra lòng từ bi khiến người ta vận dụng tâm tư khả năng phương tiện để làm cho mọi người mọi loài thoát khổ được vui, Từ Bi bao hàm ý nghĩa rộng lớn vô bờ bến, vì cho vui diệt khổ không những về vật chất mà cả tinh thần, không những với loài người mà còn bao gồm tất cả chúng sinh.

I). Tại sao phải có lòng Từ Bi?
 Tính sân giận oán hờn của con người là một nguyên nhân tai hại lớn gây ra khổ đau cho người và muôn vật. Từ việc nhỏ bé gây đổ vỡ mất hạnh phúc giữa những người thân như vợ chồng anh em, họ hàng bạn bè, cho đến việc lớn như chém giết khủng bố chiến tranh giữa các phe phái, các nước, màu da, tôn giáo, v.v… Tất cả đều do sân hận mà ra, nó nằm sẵn ở trong mỗi con người, có dịp là nó bùng nổ. Vì thế từ thời tiền cổ đến bây giờ, giết chóc chiến tranh luôn luôn xảy ra không ở nơi này thì ở nơi khác, không sao dứt được cảnh khổ; Phật giáo có phương cách dùng lòng Từ Bi để xóa đi, diệt đi lòng sân hận oán hờn, đó là phương thuốc diệt khổ cho vui, vì thế chúng ta cần “quán Từ Bi” là vậy.

II). Từ Bi cho vui cứu khổ ra sao?
 Người có lòng từ bi không bao giờ sát sinh người và vật, người Phật tử chân chính không giết súc vật để ăn, không giết súc vật để vui như đi săn bắn câu cá; chính nhờ lòng từ bi mà cuộc đời thêm vui bớt khổ, sự chém giết giảm đi bớt tàn khốc, người và muôn vật coi nhau như anh em họ hàng.
 Nhưng chỉ cho vui và diệt khổ trong hiện tại, chưa đúng với ý nghĩa của nó, người Phật tử còn phải nghĩ đến cho vui và diệt khổ tương lai nữa, tức là phải gây nhân vui cho tương lai và diệt nhân khổ cho tương lai, làm sao thực hành từ bi ở diểm này? Mọi người đều biết tâm ý là nguồn gốc của mọi hành động thiện ác trong ý khẩu thân, ý điều khiển khẩu nói năng thân hành đông thiện ác. Do đó, muốn gây nhân vui cho tương lai và diệt nhân khổ cho tương lai chúng ta phải tu tâm ý trước nhất. Tâm ý tu rồi thì khẩu thân theo ý mà nói làm những việc tốt, bỏ nói làm các việc ác, vì thế phải chú trọng tu tâm dưỡng tánh là vậy.

III). Từ Bi và Bác Ái khác nhau chỗ nào?
 Có người cho rằng Bác Ái rộng hơn Từ Bi, có người cho rằng Bác Ái cũng giống như Từ Bi; để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta lần lượt phân tích ý nghĩa của hai danh từ này:
Bác Ái: Bác nghĩa là rộng, lớn, Ái là yêu thương, Bác Ái là lòng thương mọi người; người có lòng Bác Ái thương yêu mọi người, thường cứu giúp người hoạn nạn, ốm đau, khuyết tật, bất bình thường, nghèo khổ từ vật chất đến tinh thần.
Từ Bi, như trên đã giải thích, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho mọi loài chúng sanh, nó bao gồm sáu cõi Trời, Người, A Tu La (Thần), Súc Sinh, Ngạ Qủy, Địa Ngục. Nó rộng lớn bao la như thế chứ không chỉ một loài người, nhưng chúng ta thường sống chung và đụng chạm với loài Súc Sinh vì chúng ta chỉ có mắt thịt không trông thấy bốn loài kia. Từ Bi còn có ý nghĩa cho vui diệt khổ tất cả nguồn gốc ngọn ngành, chứ không phải chỉ xoa dịu cái hiện tại mà thôi, như người làm vườn không phải chỉ cắt các cây cỏ dại mọc hoang, mà phải nhổ tận gốc rễ của cây cỏ dại không cho mọc lại nữa.
 Như thế Từ Bi về không gian bao gồm tất cả mọi loài trong sáu cõi, về thời gian bao gồm cả hiện tại và tương lai; còn Bác Ái về không gian chỉ chú trọng một loài người, về thời gian chỉ chú trọng trong hiện tại mà thôi. Nói một cách khác, Từ Bi bao gồm hết nghĩa của Bác Ái, còn Bác Ái không trùm được nghĩa lý Từ Bi rộng lớn.
 Cũng cần phân biệt lòng từ bi và lòng yêu thương quyến luyến khác nhau mà đức Đạt Lai Lat Ma thứ 14 đã nói: “Tình yêu thương khắn khít giữa vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn bè thân thiết v.v…thường phát xuất từ lòng quyến luyến; khi lòng quyến luyến thay đổi, lòng yêu thương cũng thay đổi hay biến mất luôn, đây không phải là tình yêu thương chân thực.
 Tình yêu thương chân thật không phát xuất từ sự quyến luyến, mà phát xuất từ lòng vị tha, như khi thương xót hay động lòng trắc ẩn đối với người nghèo khổ bệnh tật; trong trường hợp này, lòng từ bi của bạn sẽ tồn tại như một sự đáp ứng cho con người bị đau khổ”.

IV). Làm sao để có lòng từ bi?
 Muốn huân tập được lòng từ bi, chúng ta phải dùng phương pháp quán tưởng, có ba cách sau đây:
1). Quán chúng sinh duyên từ (quán sát cảnh đau khổ của chúng sanh để phát sinh ra lòng từ bi):
 Đây là phương pháp dễ thực hành nhất, khi quán thấy chúng sinh đau khổ mà thành cảm lòng thương xót đưa đến lòng từ bi sinh khởi; chúng sanh ở trong sáu cõi còn đang chìm đắm trong sinh tử phiền não nhiễm ô, chỉ có loài Trời là tốt đẹp hơn cả, nhưng vẫn còn ngũ suy trước khi lâm chung là: Tràng hoa đội trên đầu héo đi, áo choàng dính dơ bẩn, thân mất mùi thơm lại có mùi hôi, thể nữ bỏ đi, không muốn ngồi tòa nữa. Loài A Tu La (Thần) có phiền não cãi cọ, đấu tranh, xung đột, giết chóc, sợ hãi; loài Ngạ Qủy (Ma Qủy) bị đói khát bức khổ; loài đọa Địa Ngục bị giam cầm hành hạ vô cùng đau khổ liên tục lâu dài, như phải nằm trên giường chông, giường sắt nóng đỏ, bị lửa đốt, bị lột da chặt chân tay v.v…thật là khổ cùng cực. Tất cả những loài trên đây, chúng ta không thể trông thấy mà chỉ được biết qua Kinh Phật nói; còn loài Súc Sinh có nạn khổ là ăn nuốt nhau, bị loài người giết để ăn, giết hại cho vui, giết hại vì vô ý, coi sinh mạng loài vật từ lớn đến nhỏ như cỏ rác, nên loài vật khổ biết chừng nào; loài người cũng chịu khổ não từ vật chất đến tinh thần trong mưu sinh hàng ngày, cho đến già bệnh chết, có trăm nghìn nỗi khổ kể sao cho hết được.

Quán như thế nào để phát khởi lòng từ bi?
 Đức Phật dạy: “Quán sát tất cả chúng sanh trong sáu cõi đều là bà con thân thuộc với mình”. Chúng ta có thói quen những gì ngoài ta đều không để ý đến, giờ đây chúng ta bỏ cái vỏ hẹp hòi mà nhận ra rằng:
1- Loài người chúng ta sống trên trái đất này như sống trong một cái nhà lớn, một đại gia đình, không phân biệt màu da chủng tộc, không phân biệt nước này nước kia, không phân biệt tôn giáo này tôn giáo nọ v.v…. Những sự khác biệt ấy chỉ là bề ngoài, vì ai cũng có xương thịt và các cơ quan bộ phận như nhau, cũng đồng sợ khổ thích vui như nhau v.v…
2- Rộng lớn hơn nữa, đối với năm loại chúng sinh khác, chúng ta coi như thành phần trong đại gia đình trong thái dương hệ này; mặc dù khác nhau về hình thức vì khác loài, nhưng cũng là chúng sanh có chung một mặt trời là nguồn sống chung; tất cả đều tham sống sợ chết như nhau, đều biết cảm nhận nỗi vui sướng và đau khổ như nhau. Gần gũi chúng ta nhất là loài vật, tuy chúng không thông minh biết nói như chúng ta, nhưng chúng có những điểm riêng đặc biệt của chúng mà có khi ta không có. Chúng cũng biết thông cảm với chúng ta và giúp chúng ta nhiều việc lợi ích, biết đâu rằng đời trước hay đời sau này chúng chẳng phải là anh em bà con chúng ta?
 Phương pháp quán này giúp chúng ta mở rộng được cái nhìn hẹp hòi của cái ngã nhỏ bé để thể nhập vào cái ngã to lớn là đại gia đình của toàn thể chúng sinh.

2)- Quán Pháp duyên từ (quán mình và chúng sinh cùng một thể tánh do đó từ bi phát khởi):
 Chúng sanh đau khổ là chính ta đau khổ, phép quán này cao siêu hơn phép quán ở trên; ở đây dùng lý trí để quán sát. Lòng từ bi do duyên “pháp tánh”(bản tính chung) mà phát khởi. Hành giả quán sát thấy tất cả chúng sanh cùng mình đều đồng một “pháp giới tánh”(bản tính của chúng sinh), cho nên chúng sinh đau khổ là mình đau khổ, do đó hành giả khởi lòng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Đến địa vị này, hành giả không còn phân biệt mình với người, không còn phân biệt thân thích hay người ngoài, và chỉ thấy mình và người có cùng bản tánh (cùng pháp giới tánh) mà thôi; các vị Bồ Tát nhận thấy mình và chúng sinh cùng đồng một bản thể, nên khi cứu khổ không còn phân biệt người đó là ai, và khi làm cũng không chấp mình đã làm. Chúng sanh có khổ thì Bồ Tát có bi, Bồ Tát đã chứng “Pháp duyên từ” chỉ có mục đích làm sao cho chúng sinh hết khổ được vui thôi.

3)- Quán Vô duyên từ (không cần duyên vẫn có từ):
 Loại quán này rất cao siêu rất khó thực hành, Vô duyên từ là lòng từ bi không có tâm năng (làm) duyên và cảnh bị (được) duyên, không dụng công đối đãi giữa mình và người; lòng từ bi đã sẵn sàng trong thể tánh (Phật tính), nó sẵn sàng lan tràn bao la trùm khắp, không chọn lựa phân biệt. Hễ chúng sinh có nhu cầu là có đáp ứng ngay như tình thiêng liêng giữa mẹ và con, cũng như mặt trời mặt trăng chiếu soi cùng khắp không chừa chỗ nào, sự chiếu soi vô tư, không thiên lệch chọn lựa, không phân biệt chỗ dơ sạch, nơi cao thấp. Tâm từ bi luôn luôn sẵn sàng, chúng sanh hễ có cảm cầu là có linh ứng đáp lại.

V). Lợi ích của quán Từ Bi:
 Người quán Từ Bi sẽ trừ được lòng sân hận giận hờn, bỏ được lòng tật đố ganh tị, dẹp được ngã chấp hẹp hòi, và đoàn kết được với mọi người; mọi người nếu đều có lòng từ bi, nhân loại sẽ không còn giận hờn giữa người và người, không còn ghét hại giữa chủng tộc này và chủng tộc kia, không còn chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia kia v.v…. Mối liên hệ giữa mọi người, mọi chủng tộc, mọi nước, mọi tôn giáo sẽ được gắn bó cùng nhau xây dựng hạnh phúc; lúc ấy con người vô cùng sung sướng khi thấy quanh mình toàn là bà con quyến thuộc như anh em trong một nhà cùng nhau an hòa.
 Từ xưa tới nay, con người trong nhân loại bị đau khổ là do lòng sân hận giận thù gây ra, nếu mọi người biết áp dụng lòng từ bi, sự thù hằn độc ác phải giảm đi, đâu còn việc đầu độc oán hờn vương khắp nơi nơi, mưu lừa dối trá rắc reo nghi ngờ sợ hãi nữa. Nếu mọi người đều có lòng từ bi, đâu còn cảnh tạo bất an chèn ép bức đọa con người, gây khủng bố chiến tranh chết bao sinh mạng; nếu mọi người đều thực thi lòng từ bi, thế giới này là thiên đường vậy.
 Trong Tăng Nhất A Hàm, quyển 3, trang 475 đức Phật dạy: “Nếu có chúng sanh tu hành tâm từ, lưu truyền rộng nghĩa của tâm từ, vì người diễn nói, sẽ được qủa báo tốt đẹp là: Ngủ yên ổn không chiêm bao dữ, sống yên ổn không bị ác hại, được Trời Người thương mến, không bị binh đao đạo tặc xâm tổn, không bị lửa nước nguy khốn, được sinh lên cõi trời Phạm Thiên”. Cũng quyển 3 trang 176, đức Phật khuyên khi bị giam cầm chớ khởi tâm ác mà phải khởi tâm từ rải khắp
 Trong Tạp A Hàm, quyển 4 Kinh 1253, 1255, 1256, đức Phật dạy: “Số người tu tập lòng từ bi ít như hòn đất trong tay so với số người không tu lòng từ bi nhiều như đất của đại địa này. Có người mang 300 chảo cơm bố thí ba lần sáng, trưa, chiều, công đức bố thí này không bằng một phần muôn ức của người rải lòng từ bi đến khắp cả chúng sinh dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn như người vắt sữa bò. Nếu có qủy thần ác muốn đến dò xét tìm chỗ sơ hở của người tu tập tâm từ bi này thì không thể được, mà ngược lại ngay lúc ấy qủy thần kia tự bị thương tổn.

Toàn Không

Quán chiếu thân thể - HT Thích Nhất Hạnh


An cư kiết Thu 14/10/2004.Mỗi lần mở mắt là con có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng
hoa cánh chuồng
Bạch Đức Thế Tôn. Khi con quán chiếu về thân thể con theo kinh thân hành niệm (niệm thân kinh), con khám phá ra rằng cơ thể con rất mầu nhiệm. Khi con có ý thức là đôi mắt con còn sáng thì con rất trân quý đôi mắt của con. Mỗi lần mở mắt là con có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng và những khuôn mặt thân thương, con biết đó là một trong những điều kiện hạnh phúc mà con đang có, vì vậy con rất trân quý đôi mắt của con.
Những mầu nhiệm, những phép lạ ấy nhiều khi con quên mất, con hờn giận, con tủi thân tại vì con không biết rằng trong con có những mầu nhiệm tuyệt vời của sự sống. Mỗi khi con có chánh niệm về trái tim thì con biết rằng trái tim con cũng đang đập một cách bình thường. Có một trái tim bình thường là một điều hết sức mầu nhiệm.
Có rất nhiều người ở trên thế giới đang sống trong lo sợ tại vì trái tim của họ có thể bị nghẽn bất cứ lúc nào. Con được biết là ở tại nước Pháp, cứ mỗi 3 phút là có một người chết vì bệnh nghẽn tim, nên ôm ấp lấy trái tim của con con thấy con có rất nhiều may mắn. Trái tim của con đưa máu đi nuôi thân thể, nhưng trái tim của con cũng suy tư, cũng thương yêu, cũng làm được quyết định vì con biết rằng 60% những tế bào trong tim cũng là những tế bào óc và con muốn ký một hiệp ước sống chung an lạc với trái tim con. Con biết rằng tiêu thụ những sản phẩm như là café, như là thuốc lá, như là rượu mạnh, như là chất dầu mỡ nhiều chất cholesterol, đó là những hành vi không có thân hữu đối với trái tim. Cho nên con nguyện chăm sóc cẩn thận để giữ gìn cho trái tim con được khỏe mạnh. Con cũng trân quý những bộ phận khác của cơ thể như lá gan, trái thận của con bằng cách sống cho có chánh niệm, không tiêu thụ những gì làm hại cho cơ thể con. Và khi giữ gìn bảo hộ thân thể con, con cũng đang giữ gìn bảo hộ thân thể của cha mẹ con, của tổ tiên con và của các con cháu của con.

Trái tim mở rộng - HT Thích Nhất Hạnh



   Dạo này mình ít niệm Phật nhưng mỗi khi mình niệm Phật thì mình hay khấn vái Ngài Quán Thế Âm rằng xin Ngài hãy ban phép lành cho con , xin Ngài cho con mở được trái tim từ bi thương được oan gia của con , cho con khg còn căm ghét và thù hận họ nữa .... sau đó thì mình tập trung tất cả những ý nghĩ của mình vào trái tim của mình và cố gắng mở nó ra ..... mình mới tập tu kiểu vậy tối hôm qua thôi rồi cộng thêm nghe thêm bài pháp "thương và ghét " của Thầy Tuệ Hải thì hôm nay mình thấy khoẻ trong người lắm :) Có lần khi mình gặp được Thầy Trí Siêu ( ở Pháp ) , khi Thầy gặp mình thì tự nhiên Thầy nhìn mình và  nói bâng quơ  là : khi Cô vào con đường tu tập  thì nên mở rộng trái tim mình ra , khg nên khép kín lại như vậy  :)  mà thật sự lúc đó mình đang đóng chặt trái tim mình lại vì gặp qúa nhiều oan gia đến đòi nợ , chịu khg nổi nên phải đóng chặt lại chứ , mở ra lạng quạng thì chết sao  hihi ....mà nói thật nha , khi mình khui được suối từ bi trong tâm rồi thì ui thui , khoẻ lắm , vui ơi là vui thay vì phải lo hận thù 1 ai đó làm bị mệt muốn chết đi được .... cho nên giờ chắc mình tu theo kiểu các Ngài Lạt Ma ở Tây Tạng , quán chiếu làm sao khui cho được nguồn suối từ bi trong tâm mình  heheheh  Mình nghe mấy Thầy giảng là mấy Ngài Lạt Ma ở Tây Tạng chuyên môn tu tâm từ , nghĩa là từ sáng sớm thức dậy là các Ngài ngồi thiền qúan chiếu tập thương những người chung quanh , cứ cả ngày tu vậy đó , các Ngài tu quán chiếu  làm sao mà cho đến đỗi khui được nguồn suối từ bi dâng trào trong tâm ra , cho nên các Ngài Lạt Ma từ bi lắm , đến nỗi hiện ra trên mặt cái nét hiền lành và từ bi lắm , nhìn mặt các Ngài là tự nhiên ai củng có cảm tình hết ..... còn ai tu mà càng ngày mọc 2 cây răng nanh nhọn hoắc là làm ơn đổi pháp môn tu giùm tui cái , khg thôi  nghỉ tu 1 thời gian đi , nên đi tầm sư học đạo lại , vì mình đi qua rùi nên có kinh nghiệm heheheh



HT Nhất Hạnh đã dạy sau đây :
An cư kiết Thu 20/10/2004.Những người nói hay làm điều khiến cho con đau khổ vì những người ấy đang có đau khổ rất lớn trong lòng
Bạch đức Thế Tôn, con biết rằng trái tim của ngài là một trái tim của tình sót thương không có biên giới. Trái tim của ngài bao trùm được tất cả mọi loài, mọi người. Bạch đức Thế Tôn ngài thường dạy rằng khi mình mở trái tim của mình ra để bao trùm được tất cả mọi loài mọi người thì mình không còn đau khổ nữa.
Nếu chúng ta bỏ một nắm muối vào trong cái tô quẫy lên thì nước ở trong tô sẽ quá mặn và không thể uống được, nhưng nếu chúng ta bỏ nắm muối đó vào dòng sông thì mọi người vẫn có thể uống được nước sông và nước sông sẽ không bị mặn khi mà có một nắm muối ném vào. Nước ở trong tô thì rất ít nhưng nước trong sông thì bao la, cũng vậy con biết rằng khi trái tim của con mở rộng thì những cái thường thường gọi là bất như ý không còn động được tới con nữa và con sẽ có an lạc suốt ngày tại vì tâm con đã trở thành rộng lớn. Bạch đức Thế Tôn con sẽ học làm theo lời ngài dạy, mỗi ngày mở trái tim của con ra để có thể dung chứa được tất cả mọi người anh em và tất cả những người khác ở trong xã hội. Thấy rằng những người nói hay làm điều khiến cho con đau khổ vì những người ấy đang có đau khổ rất lớn trong lòng, nhưng cái hiểu sẽ đưa tới cái thương và sự chấp nhận.