Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác
nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên
liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh
giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu
nhất.
Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì
bất định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không
biết được cái gì sẽ tới trước – ngày mai hay cái chết. Chúng ta không
thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở
lại phía sau.
Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy
vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất. Nếu điều xấu
nhất không xảy ra
thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng
ta bất ngờ.
Điều này cũng ứng dụng cho sự thực hành Pháp: chuẩn bị
cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong chúng ta biết được khi nào mình
chết. Mỗi ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết
của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang máng, hay của một
người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như
vui sướng, nhưng một cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng
rằng điều đó sẽ không xảy ra cho ta.
Chúng ta nghĩ rằng mình được
miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng ta trì hoãn sự tu hành
tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng ta trước cái chết), và cho rằng
ta sẽ còn thời gian trong
tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới, điều duy nhất
chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng ta cần phải đi vào sự thực
hành ngay lập tức để dù cái chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta
cũng sẽ sẵn sàng.
Khi cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản
nó. Dù bạn có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với bệnh tật
thế nào chăng nữa, cái chết chắc chắn giáng xuống. Nếu chúng ta ngẫm
nghĩ về cuộc đời của chư Phật và Bồ-tát trong quá khứ thì nay các Ngài
chỉ còn là một ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long
Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn cho Pháp và làm
việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ đây tất cả những gì còn lại
của các ngài chỉ là
những cái tên.
Tiểu sử của các vị sống động đến nỗi hầu như họ vẫn
còn sống. Khi chúng ta đi hành hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu
viện Nalanda, là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học
tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những dấu tích để
lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta
thấy bản chất của sự vô thường.
Như những Phật
ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào
không gian, chúng ta sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người
trong chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau như
đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài người trong chúng
ta sẽ chết, và những người khác
sẽ chết trong ít năm.
Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả
chúng ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có sự thấu suốt tâm
linh của ta là giúp ích được cho ta. Không ai sau khi sinh ra mà càng
lúc càng cách xa cái chết. Thay vào đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái
chết hơn, giống như súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những
người chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng, chúng ta cũng
bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến
gần tới lúc kết thúc của đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc
vào lẽ vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã.
Như Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất mạnh mẽ và khỏe khoắn
nhưng lại chết trẻ là những
vị Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất cả những
người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai còn sống trong một trăm
năm nữa. Cái chết không thể bị đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm
sự nương tựa ở bất kỳ một vị thầy tài giỏi. Trải qua những năm tháng
cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều người. Giờ đây họ chỉ còn là những
hình bóng trong ký ức tôi.
Ngày nay tôi lại gặp thêm những người
mới. Thật giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của
mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng ta tiêu phí
cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng của sự tham luyến và oán
ghét, nếu vì lợi ích của những cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng
trưởng những mê lầm của
mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất lâu dài, vì nó phá hủy
những triển vọng thành tựu hạnh phúc tối hậu của chúng ta. Nếu đôi lúc
chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế tục tầm thường, điều đó
không quan trọng lắm, nhưng nếu chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được
nhờ đời người này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời
gian dài.
Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua sự
đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân, hay ta muốn
thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái sinh, hoặc ta muốn đạt tới
trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva nói rằng trong đời này chúng ta có
cơ hội, trách nhiệm, có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương
lai của ta sẽ như thế nào.
Chúng ta
nên tu hành tâm thức của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí –
không lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị khi cái chết
đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết đó thì động lực cho
thực hành tâm linh sẽ phát sinh – đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe
Sharawa (1070-1141) nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định
về lẽ vô thường.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo huấn đầu
tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ là vô thường. Khi phải đối
diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất sẽ hoan hỉ, các hành giả
trung bình sẽ được chuẩn bị tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất
sẽ không có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng của đời
mình, điều
tối quan trọng là đừng có ngay cả một day dứt của sự hối tiếc, hoặc
điều tiêu cực mà chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới
sự tái sinh kế tiếp của ta.
Phương cách tốt nhất để làm cho cuộc đời
có ý nghĩa là sống theo con đường của lòng bi mẫn. Nếu bạn nghĩ tưởng
về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý
nghĩa. Bạn có thể cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không
cần cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ khiến bạn ngã
lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể
có những lợi lạc to lớn. Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm
tưởng rằng mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng
bao giờ
nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng bao giờ tiến bộ trên
con đường tâm linh.
Sự tin tưởng rằng bạn sẽ không chết là chướng
ngại to lớn nhất cho tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới
Pháp, bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới nó, và bạn
sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể tuân thủ nó ở một mức độ
nào đó. Nếu bạn không thiền định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ
thực hành một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng, bạn sẽ
thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành, và bạn sẽ bị sự kiệt sức
vây khốn. Bạn sẽ bị trói chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt.
Khi suy nghĩ quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc cho
những gì mình
yêu quý – những thân quyến và bằng hữu của chúng ta – và ta nỗ lực để
làm vui lòng họ. Rồi khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta
liệt những người này là kẻ thù của mình.
Trong cách này, các mê lầm
như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng sông ngập lụt vào
mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm lạc này khiến cho chúng ta mê đắm
trong mọi thứ hành động tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh
trong những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai. Nhờ sự tích
tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một đời người quý báu. Bất kỳ
công đức nào đang tồn tại cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt
tương đối trong đời này.
Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng ta có sẽ
bị tiêu
đi mất, và nếu ta không tích tập công đức nào mới thì giống như ta tiêu
hết tiền để dành mà không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn
kiệt sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta sẽ bị đắm
chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm hơn nữa.
Người ta nói rằng
nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về cái chết thì chúng ta sẽ chết
trong sự áp chế của sợ hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng
ta đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái chết. Họ tránh
né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy khi nó thực sự xảy tới họ bị bất
ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta
đừng nên không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối mặt
với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu. Nhờ đó, khi chúng ta
thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì nó không phải là cái gì hoàn toàn
không chịu đựng được.
Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải
quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn. Một số người nhận xét
rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất
bi quan. Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực
sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu – là điều không
thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường - và tiệt trừ những
đau khổ một lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành đạt
chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành đạt trong những đời
sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là
một thực tại do đó quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không
giải quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều nên làm là
đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích, khảo sát nó, xác định các
nguyên nhân của nó và tìm ra phương cách tốt nhất để có thể đối phó với
nó. Những người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị nó tấn
công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ hơn những người bản thân họ
đã làm quen với những đau khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát
khởi.
Một hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán
chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của lúc sinh ra, nỗi khổ
của
sự già đi, nỗi khổ của bệnh tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các
hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng.
Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức mỗi ngày một lần. Vì
quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết.
Nếu bạn phải đi qua một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu
về những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó. Không tiên liệu
về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không bạn cũng phải đi tới đó, vì
thế tốt nhất là chuẩn bị sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn
xuất hiện. Nếu bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn sẽ
cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần đây. Như vậy nếu
khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày hôm nay hay ngày mai, nhờ sự
thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng
trói buộc bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành công thế
tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa nào.
Lợi lạc của sự
tỉnh thức về cái chết là nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy
hoan hỉ khi giờ chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc. Khi bạn
quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung và sự bất định của giờ
chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận
ra rằng sự thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản chất và
không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi lạc lâu dài của bản
thân bạn và những người khác sẽ có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc
đời bạn sẽ được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã nói, bởi
chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự sau lưng, thì tại sao không từ
bỏ nó ngay bây giờ?
Mặc dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng
thuốc men hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể hứa hẹn
sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu
mươi hay bảy mươi năm nữa, hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ
không còn sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại chúng ta
chỉ như một phần của lịch sử. Khi cái chết đến, điều duy nhất có thể
giúp ích là lòng bi mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà
người ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một đời sống sau
khi chết hay không là điều hết sức quan trọng.
Những đời quá khứ và
tương lai hiện hữu vì những lý lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ
năm ngoái, từ năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được nhớ
lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một cái biết đã hiện hữu
trước cái biết hiện tại. Khoảnh khắc ý thức đầu tiên trong đời này
không được sinh khởi mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh
ra từ cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm là cái gì
trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước nó phải là cái gì đó trong
sáng và thấu biết, là khoảnh khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể
tin
được rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến từ không cái
gì khác hơn là một đời trước.
Mặc dù thân xác vật lý có thể hành xử
như một nguyên nhân thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó
không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ chuyển hóa
thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển hóa thành vật chất. Vì thế,
tâm thức phải đến từ tâm thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến
từ tâm thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong đời sau.
Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên tỉnh thức về nó, đời bạn
sẽ trở nên có ý nghĩa. Nhận ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có
tính cách bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống trả
lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để ta sẽ được thúc đẩy thực
hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tầm quan trọng
của sự tỉnh thức về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu.
Nó
quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan trọng ở lúc bắt
đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai đoạn cuối. Sự tỉnh thức về cái chết
mà chúng ta phải nuôi dưỡng không phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất
lực về việc phải chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta.
Đúng đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà chưa chấm dứt
được các nguyên nhân của sự tái sinh trong các cõi thấp của luân hồi và
sẽ chết mà không tích tập những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho
sự tái sinh thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành
được hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế bởi nỗi
sợ hãi và ân hận ghê gớm.
Nếu chúng ta tiêu phí toàn bộ đời mình để
miệt mài trong những hành động xấu xa phát sinh từ sự oán ghét và ham
muốn, thì chúng ta gây nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu.
Đó là bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ những nguyên
nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc của chính chúng ta trong những
đời sau. Nỗi sợ hãi về điều đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày
trong cuộc đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh về
cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và mọi sự của cuộc đời này
thì không quan trọng,
và sẽ làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của sự
thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng ta sợ hãi cái chết, chúng ta
sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc
của mình khi chết.
Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết
thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận. Ngài Tsong-kha-pa
nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ vô thường trở nên hết sức
vững chắc và kiên cố thì mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về
sự vô thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt đầu ngay từ
khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng ta thường xuyên bị hành hạ
bởi bệnh tật và sự già yếu. Khi còn khoẻ mạnh và tràn đầy sức sống,
chúng ta
không nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết.
Chúng
ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khoẻ; cách tốt
nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta. Ví dụ như người đang rơi
từ một dốc đá thật cao sẽ không sung sướng gì trước khi họ chạm đất.
Ngay cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực hành
Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường thọ, có lẽ một
trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời
gian để thực hành Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự
lần lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng.
Một nửa đời người
bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời gian còn lại chúng ta bị
phóng tâm bởi những hoạt
động thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần giảm sút,
và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành, nhưng đã quá muộn bởi
chúng ta sẽ không có năng lực để thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh
nói, nửa đời người tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ
và hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị dày vò bởi
những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất vọng, vì thế khó có thời
gian nào để cho sự thực hành Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm
và suy nghĩ về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời
gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ nhận ra rằng
chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến mình cho sự thực hành nghiêm
cẩn Phật Pháp.
Nếu chúng ta
không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp, mà cứ sống như
ta sống đời thường, thì chắc chắn là ta tiêu phí đời mình trong sự lười
nhác không mục đích. Gung-thang Rinpoche nói, có phần diễu cợt: “Tôi mất
hai mươi năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất hai
mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này, và rồi mất mười năm
nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực hành Pháp như thế nào.” Khi tôi còn là
một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng mười bốn hay mười lăm
tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một cách đứng đắn về Pháp. Sau đó tôi lại mất
đi nhiều thời gian trong những biến động thời cuộc.
Điều tốt nhất
tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy bằng Geshe (học vị hàn lâm cao
nhất trong các
trường Đại học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương
mình. Giờ đây, mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn đời
tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi lạc gì nhiều. Tuy nhiên
tôi không đến nỗi phải hối tiếc rằng mình đã không thực hành.
Nếu
tôi nghĩ về phương diện thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những
khía cạnh nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những cơ cấu
thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác. Thời gian để thực hành
Pháp không đến một cách tự nhiên mà phải được sắp xếp có chủ đích. Nếu
bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một lúc nào đó, cần
phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi thường thích nói, chúng ta nên dùng
năm
mươi phần trăm thời gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau
của mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của đời này.
Có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên nhân để sống
còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi là để củng cố đời sống, như
thực phẩm và thuốc men, có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết.
Ngày nay, nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của chúng
ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng và chăn nuôi súc vật
đã góp phần làm sức khỏe suy yếu đi và gây nên sự mất quân bình trong
thân thể. Thân người quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì
bạn có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn, bị cao huyết áp,
và thể
bạn trở thành một gánh nặng.
Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít
mạnh khỏe hay khả năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi
bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số những người lớn, và
khi quá già thì bạn có cảm tưởng như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là
bản chất sự hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì tác
động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay cách khác né tránh
nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay lặn sâu trong đại dương. Nhưng
khi hiểm họa đến từ bên trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi
chúng ta còn tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một thân
thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và rút ra được cốt tủy của
nó. Rút
ra được cốt tủy (bản chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một
trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự suy sụp và
nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải thoát và toàn trí.
Người
giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật sở hữu duy nhất
khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu chúng ta phải để lại đằng sau
thân xác này, là thứ mà ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là
cái từng đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất, thì
làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải vật chất. Hầu hết mọi
người đều mất quá nhiều năng lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một
ít thành đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi hoạt
động thế
tục của ta, như sự chăm sóc những người thân và bằng hữu, và sự đua
tranh với những đối thủ, đành phải bỏ lại dang dở.
Mặc dù bạn có thể
có đủ thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ phải chịu
đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ mặc trong một trăm năm, nhưng
khi chết bạn sẽ phải trần truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự
khác biệt giữa cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của
mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy. Bạn nên cố gắng
tưởng tượng một tình huống trong đó bạn bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn
bị trọng bệnh và toàn thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt
sức, và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc hấp hối
bác sĩ sẽ nói bằng hai cách. Với người bệnh thì ông nói: “Đừng lo lắng,
bạn sẽ khá hơn. Không có gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia
đình thì ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp xếp để cử
hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm đó bạn sẽ không có cơ hội
nào để hoàn tất công việc dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của
bạn. Khi nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động khó khăn. Rồi
hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn cảm thấy thân mình trở nên cứng
đơ, như một khúc cây rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn
thấy tử thi của chính mình.
Những lời sau cùng của bạn nghe thều
thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu bạn nói gì. Thực
phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là một bữa ăn ngon lành mà là một nắm
thuốc mà bạn sẽ không còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những
bằng hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn mới gặp lại
họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất
thường, hơi thở vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ
có một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm dứt việc hô
hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết như thường được hiểu như vậy. Sau
đó thì tên của bạn, cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu
và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào một từ “cố” ở
trước nó.
Điều trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải
ở trong một trạng thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có,
và là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có thể sống một
cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại
để nuôi dưỡng một trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta
có thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn đầy năng lực
vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời sau chúng ta sẽ tái sinh trong
một đời sống thuận lợi. Nói chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan
trọng trong việc này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp
hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh.
Ít nhất, nên
cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị Phật và Bồ-tát khiến họ có thể
nhận ra các Ngài,
cố gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết trong một tâm
trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm được thì điều tối quan trọng
là những người chăm sóc và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối.
Vào lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay oán giận có
thể đưa người hấp hối tới một trạng thái đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có
khả năng đi vào một sự tái sinh ở cõi thấp. Khi cái chết đến gần, những
dấu hiệu nào đó điềm chỉ tương lai có thể xuất hiện.
Những người có
tâm thức tốt lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng
hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn thấy những
điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi
họ chết. Nếu lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt về
sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo giác và sẽ cảm thấy
đau buồn ghê gớm.
Một số người thấy như thể họ đang đi vào bóng tối,
những người khác cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài
người đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ thấy mình đang
bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho số phận trong tương lai của họ.
Do những dấu hiệu như thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối, và
sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi kéo xuống.
Họ
sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách rốt ráo, những sự kiện này
phát xuất từ sự bám chấp vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ
mà mọi người rất yêu mến đó sắp chết. Khi những người đã miệt mài phần
lớn đời mình trong ác hạnh ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại
hơi ấm của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái tim. Đối với
những hành giả thiện hạnh thì tiến trình tan biến hơi nóng bắt đầu từ
phía dưới, từ bàn chân, và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ
trường hợp nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim.
Ngài
Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để cảm nghiệm
niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời này. Chúng ta phải hướng sự
chú tâm của ta về tương lai; nếu không, ta sẽ không khác gì những thú
vật. Sự tỉnh thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường.
Trừ phi bạn phát
triển sự tỉnh thức này, còn không thì tất cả những thực hành khác sẽ bị
chướng ngại. Pháp là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt
không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta trong cuộc hành
trình; Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa chúng ta tới bến bờ Niết-bàn. Vì
thế, hãy đem tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực
hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô thường thì rất dễ,
nhưng thực hành thật sự thì quả là hết sức khó khăn. Và khi chúng ta
thực hành, đôi lúc ta không nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu
ta chỉ so sánh hôm qua và hôm nay.
Đó là một mối nguy hiểm dễ làm
ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình huống như thế,
rất lợi
lạc khi ta không so sánh từng ngày hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng
so sánh tâm trạng hiện thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười
năm trước; như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi.
Chúng ta
có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong nhận thức,
trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng ta đối với các thực hành
này. Chính nó là một suối nguồn nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự
ban cho ta niềm hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có
khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết định trì hoãn
thực hành của chúng ta tới một thời điểm thuận lợi hơn thì thực sự rất
nguy hiểm...