Sunday, March 13, 2011

Ý nghĩa vãng sanh (HT Thích Viên Giác)


The Venerable Master Thích Viên Giác: "Each of us has the ability to manifest our Buddha-nature when we remember Buddha and direct our attention toward Buddha in all our activities. The meaning of death is indeed to transcend this impure world to lead a pure, tranquil, and peaceful life; by purifying our own heart, we can transform a world of malice into the realm of goodness."



Ý nghĩa vãng sanh

HT Thích Viên Giác

Nguồn: Giác Ngộ Online



Thế giới mà chúng ta đang sống luôn bất an, bất toàn và tạm bợ mà trong kinh A Di Đà gọi là trược thế. Kiếp nhân sinh đầy ô trược và tai nạn: mưa gió trái mùa, bão lụt, động đất, sóng thần, hạn hán, biến đổi khí hậu gọi là kiếp trược.



Con người thì luôn bị bản năng dục vọng chi phối điều động, luôn bất an, bức xúc, từ chuyện làm ăn, tạo dựng địa vị xã hội cho đến tình nghĩa vợ chồng con cái đều nóng bức như cái lò lửa, gọi là phiền não trược.



Nhận thức của con người thì đầy những sai lầm về những giá trị sống, coi trọng tiền tài hơn tình nghĩa, vật chất hơn tinh thần, lấy sự lừa đảo dối trá như là lẽ sống được nhiều người chấp nhận, coi đó là khôn ngoan, thông minh, biết sống…, gọi là kiến trược hay văn hóa trược.



Mạng sống con người luôn bị đe dọa bởi tai ương hoạn nạn, bệnh tật nan y, môi trường sống trở thành tác nhân nguy cơ của sinh mệnh, tuổi thọ không cao, gọi là mạng trược.



Con người xã hội cũng đầy phức tạp bất an, ích kỷ hại nhân đến nỗi người xưa đúc kết lại như là một thái độ sống đừng tin tưởng vào một ai: "Dò sông, dò biển dễ dò / Nào ai bẻ thước mà đo lòng người", đó gọi là chúng sanh trược.



Sự xấu ác hiện hữu trong mọi góc cạnh của cuộc sống nên kinh Phật gọi thế giới này là ngũ trược ác thế.



Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy các Phật tử cần có cái nhìn rõ về bản chất của đời sống. Ngài dạy:

"Nhìn đời như bọt nước

Nhìn đời như ảo ảnh

Hãy nhìn đời như vậy

Thần chết không bắt gặp".

(PC, 170)



Đây là một phương pháp quán chiếu về thực chất của cuộc đời để vượt qua thế giới trược uế này, cách nhìn thế giới là ô trược trong kinh A Di Đà cũng có tác dụng "Thần chết không bắt gặp" như vậy. Sự nhận thức đưa đến thấy rõ sự thật bao giờ cũng có tác dụng giải thoát khỏi các ảo ảnh. Thông thường ta sợ hãi vì ta không thấy rõ, khi thấy rõ rồi thì không còn sợ nữa, giống như khi ở trong một căn phòng tối, ta cảm thấy sợ hãi nhưng khi bật đèn sáng thì ta không còn sợ nữa, lý do đơn giản là vì ta thấy rõ sự vật nên nỗi sợ tan biến.



Cũng vậy, khi quán chiếu về thế giới, nếu thấy rõ thực chất của nó ta sẽ thoát khỏi sợ hãi, bất an. Không còn sợ cái chết nữa thì gọi là "Thần chết không bắt gặp".



Ta không sợ chết do:

Một là, biết rõ sự chết là quy luật tất yếu không ai tránh được, đây là một định luật, sợ cũng vô ích nên không sợ nữa mà có thể sống chung với chúng.

Hai là, sự tham muốn bám víu vào đời sống không còn mạnh nên thoát ra mọi trói buộc của tham lam, chấp thủ; tâm đã không tham thì thoát khỏi vòng sống chết.

Tiêu điểm của vấn đề là nhận thức đúng, còn gọi là tuệ quán. Khi thấy rõ thì không bị dao động, khi tâm không còn bị tác động bởi những thăng trầm của cuộc đời thì tâm đạt được bình an, tâm bình an thì thế giới bình an. Cách dùng tuệ quán để vượt qua sống chết có thể gọi đó là vãng sanh Tịnh độ theo đạo lý "Tâm tịnh độ tịnh" trong kinh Duy Ma.



Công thức giải thoát trong Kinh tạng Nguyên thủy, thường đề cập như sau: Biết rõ đưa đến nhàm chán, nhàm chán đưa đến ly tham, ly tham đưa đến đoạn diệt, đoạn diệt đưa đến Niết-bàn (Kinh Trung Bộ).



Pháp môn Tịnh độ cũng có phương thức để đạt được vãng sanh Tịnh độ tương tự ở bước đầu: Trước hết, phải có cái nhìn về cõi Ta bà là uế trược và nhàm chán chúng, sau đó hướng tâm về thế giới trong lành mát mẻ của cõi Tịnh độ, tiếp theo là phát nguyện tha thiết nương vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà để thoát khỏi Ta bà, vãng sanh Tịnh độ.



Căn bản của vấn đề là giác ngộ về bản chất của đời sống, chính sự giác ngộ ấy làm cho lòng tin được tăng trưởng và tâm nguyện của hành giả tương ứng với nguyện lực của Phật, đây là một công trình lớn lao và khó nhọc; vì vậy, không thể nói hành giả Tịnh độ hoàn toàn nương vào tha lực. Sự khác biệt về con đường tu tập trong đạo Phật không phải là sự khác biệt căn bản của lộ trình mà là sự khác biệt về xu hướng tâm thức, hay còn gọi là sự khác biệt về căn tánh của chúng sanh.



Cõi Tây phương ở đâu? Trong một tác phẩm nghi lễ Phật giáo có hai bài kệ nói về Tịnh độ ở đâu, như sau:



1

"Mạc đạo Tây phương cận

Tây phương thập vạn trình

Di Đà thùy tiếp dẫn

Vô tử diệc vô sanh".



Tạm dịch: Chớ bảo cõi Tây phương là gần, hành trình về Tây phương xa xôi đến mười vạn dặm đường. Đức Phật A Di Đà thương mà tiếp dẫn mới giải thoát khỏi tử sanh.



2

"Mạc đạo Tây phương viễn

Tây phương tại mục tiền

Thủy lưu quy đại hải

Nguyệt lạc bất ly thiên".



Tạm dịch: Chớ bảo cõi Tây phương xa xôi, cõi Tây phương ở ngay trước mặt. Như nước chảy về biển cả, như trăng lặn không ra khỏi bầu trời.



Bài thứ nhất, nói lộ trình về Tịnh độ rất xa, con số tượng trưng là mười vạn dặm, cần được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn để đạt đến chốn không tử không sanh. Như vậy, yếu tố chính để về Tây phương là nhờ Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn. Bài kệ này nhấn mạnh về tha lực. Có sách lý giải rằng, đi về Tây phương phải trải qua 10 vạn dặm đường là tượng trưng cho 10 căn bản phiền não, mười vạn là nói đến những biểu hiện vi tế của 10 phiền não trên. Ý nghĩa là, khi chưa đi qua 10 căn bản phiền não thì Phật chưa tiếp dẫn được, phải vượt qua 10 vạn dặm phiền não thì cảm ứng được với Phật; hoặc có Phật tiếp dẫn thì mới đi qua được 10 căn bản phiền não, cả hai nghĩa đều đúng. Nhưng nghĩa thứ hai khiến người ta quan tâm hơn, vì phiền não quá nhiều nên để vượt qua chúng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian, chưa kể chuyện bị lầm đường lạc lối, được Đức Phật tiếp dẫn đi và được sống trong môi trường thanh tịnh thì mới mau chóng và không lầm lạc, dễ dàng và chắc chắn.



Bài thứ hai, nói lộ trình về Tịnh độ không xa, thậm chí là rất gần, ngay trước mắt. Bởi lẽ, cõi Tây phương chính là cõi tâm của mình, cõi tâm ở đây chỉ cho bản tâm thanh tịnh của mỗi chúng sanh. Trăm sông đều về biển cả, sông thì nhiều và hẹp nhưng nơi có thể dung nhiếp tất cả là biển rộng mênh mông, cũng như trăng mọc rồi trăng lặn, dù mọc hay lặn trăng cũng không thoát khỏi bầu trời bao la. Biển cả mênh mông hay bầu trời bao la chính là cõi tâm thanh tịnh, là bản thể an bình của vạn loại chúng sinh. Phật cũng ở tâm, chúng sanh cũng ở tâm, có sự khác biệt về thể tướng nhưng không có sự khác biệt về thể tánh. Vậy, Tây phương chính là tâm thanh tịnh của mỗi người.



Nói Phật tại tâm hay nói Tâm tịnh độ tịnh là nói về lý lẽ, nhưng làm cho Phật hiển lộ ở trong tâm hay tâm được thanh tịnh để có cảnh tịnh, cần phải có công phu tu tập lâu dài. Con đường tu tập ấy có hai yếu tố cần thiết là: đúng chân lý và thiện tri thức trợ duyên. Điều này, không chỉ đúng trên con đường đạo mà đúng cả trong cuộc sống đời thường, nếu ta hoạt động mà không phù hợp với quy luật vận động thì sẽ thất bại và nếu hoạt động mà không có môi trường cũng như con người trợ giúp thì cũng thất bại. Hai bài kệ đều đúng vì nói lên hai yếu tố "lý" và "cơ" ở trên. Tâm phải tịnh thì cảnh mới tịnh là đúng chân lý, tịnh hay không tịnh do tâm. Nhưng nếu không có môi trường tu tập thuận lợi thì sự tịnh tâm khó bền vững, con người luôn có tính xã hội nên yếu tố tha lực đóng vai trò rất lớn trong vấn đề hình thành nhân cách và định hướng cuộc đời. Trên con đường tu tập ngoài nỗ lực cá nhân, nếu được Đức Phật và cộng đồng Thánh chúng trợ duyên thì sự thành tựu là chắc chắn.



Tóm lại, vãng sanh về Tịnh độ cần nhất tâm và có sự tiếp dẫn; khi có nhất tâm thì có cảm ứng tiếp dẫn của Phật, như người xưa thường nói: "Ái bất trọng bất sanh Ta bà / Niệm bất nhất bất sanh Tịnh độ", cả hai yếu tố thực chất chỉ là một thôi. Mỗi người đều có khả năng làm hiển lộ Đức Phật trong tâm khi ta nhớ Phật, hướng tâm về Phật trong mọi hoạt động của mình. Và ý nghĩa của vãng sanh chính là đi qua cuộc sống ô nhiễm, sống với cuộc sống thanh tịnh an vui, từ ác thế chuyển hóa thành thiện thế bằng cách tịnh hóa cõi tâm.

http://www.vietnamanchay.com/2011/03/khuon-vang-thuoc-ngoc-y-nghia-vang-sanh.html

Vững chãi trước thị phi 1- Đại Đức Thích Phước Tiến giảng

Friday, March 11, 2011

Hòa Thượng Tịnh Không Sắp Vãng Sanh


Kính Thỉnh Đạo Sư Đại Lão Hoà Thượng Tịnh Không thường trụ thế gian, chuyển đại Pháp Luân:



Ðạo sư giảng kinh nói pháp gần 60 năm, vì để mọi người bỏ mê về chánh, vì chánh pháp trường tồn; vì muốn thế giới hài hoà, mà không từ lao nhọc; vì muốn pháp môn rộng khắp, mà mở lớp dạy học, bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp. Trải qua bao gian khó, không nề hà gian khổ, lấy tinh thần vô ngã, hoằng truyền đại Kinh, kỳ vọng tất cả người nghe, đều có thể chân thật phát tâm, tu trì tịnh nghiệp, vượt thoát ba cõi.



Kính vâng giáo huấn của Phật Ðà: “Lấy khổ làm thầy, lấy giới làm thầy”; y theo mười nguyện của Phổ Hiền “Thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế”; cần [cù] tu “Ba Phước, Sáu Phép Hoà”; thực tiễn “Ðệ Tử Quy”, “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, “Mười Ðiều Thiện” và “Sa Di Luật Nghi”, trừ bỏ Tham-Sân-Si, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Ðộ, dùng công đức chân thật này, khẩn thỉnh Lão Hoà Thượng Tịnh Không, thường trụ thế gian, chuyển đại pháp luân, lợi ích quần sanh.



Sư phụ Thượng nhân từ giám:



Ngày 25, trong lúc giảng dạy, Ngài đã nói: “Năm tới sẽ đến Thế Giới Tây Phương Cực Lạc đợi mọi người”. Bốn chúng đồng tu nghe tin này, thảy đều kinh ngạc, vội vàng gọi điện hỏi thăm. Sư phụ vẫn chưa có người truyền thừa giảng kinh, mọi người đồng lòng khẩn thỉnh, sư phụ từ bi trụ thế, giảng kinh nói pháp, giáo hoá chúng sanh.



Ðồng thỉnh!



Thường trụ thế gian, chuyển đại pháp luân

Ðệ tử Ngộ Ðạo cùng đại chúng đảnh lễ khẩn thỉnh!

Ngày 28 tháng 12 năm 2010







Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng Định Tuệ.

Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn.

Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.

Hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.

Hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.

Hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta.

Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được Kiên Định Thành Tựu.



Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc Của Hòa thượng Tịnh Không



Xin xem: Một Người Một Đời Không Thể Không Biết Đến

http://www.duongvecoitinh.com/index.php/2011/02/hoa-thuong-tinh-khong-sap-vang-sanh/

Tuesday, March 8, 2011

Hãy tỏ ra mình là Phật tử

Trí quang
 
 
     Đây là những lời tha thiết chúng tôi muốn được đến tận tai, vào tận lòng toàn thể các vị Phật tử tại gia. Chúng tôi mong được tiếng vang dội của quý vị đáp lại lòng chân thành của nó.
 
     Trước hết, chúng tôi xin quý vị hãy thẳng thắn tỏ ra mình là Phật tử trong bất cứ trường hợp nào.
 
     Chúng tôi cũng biết rằng tiếp xúc với người mà tỏ ra mình là Phật tử, thì có lắm khi thế là một bức màn đã hạ xuống giữa mình với họ. Nhưng tỏ ra một cách ngoan cố, hơn nữa, một cách kiêu căng, mới thành bức màn ngăn cách. Chúng ta chỉ tránh sự ngoan cố và sự kiêu căng ấy là đủ. Còn trong mọi trường hợp, bất cứ tiếp xúc với ai, ta phải thành thật tỏ ra “mình là người Phật tử”. Điều ấy cần lắm. Vì chúng ta phải như thế để tỏ sự trung thành của mình đối với Đạo pháp, để tỏ sự hợp lý của đạo pháp mình tín ngưỡng, hơn nữa, để dắt dẫn người vào đạo pháp.
 
     Chúng tôi thấy có người nghĩ rằng mình không phải là Phật tử xứng đáng nên không dám, không muốn tỏ ra “mình là Phật tử” trước mặt mọi người. Nhưng các vị có biết cho rằng chính thế, chính điều “không muốn tỏ ra mình là Phật tử” là không xứng đáng một người Phật tử rồi không? Huống chi Phật pháp vô thượng và vô cùng, được làm con Phật là hơn người lắm rồi, còn thật hành cho xứng đáng được bao nhiêu thì được. Ngay cái việc “tỏ ra mình là Phật tử” là một sự thực hành xứng đáng, một Phật tử khá xứng đáng rồi đó.
 
     Có lắm người nghĩ “tự xưng hay tỏ ra mình là Phật tử” thì sợ bị người công kích. Nhưng người công kích ấy nếu là người ngoài, đối lập với tín ngưỡng chúng ta, thì họ càng công kích càng tỏ cái phải của đạo pháp ta tín ngưỡng. Ta hãy liên tưởng sự khinh chê của con chim sâu đối với con đại bàng. Còn người công kích ta nếu là người ngoài mà công kích một cách vũ phu, công kích vì những sự xích mích hay những lý do khác, thì thế là họ đã phạm đến tín ngưỡng của người: họ là người không lịch sự, nhân cách họ không xứng đáng, ta để ý làm chi. Còn nếu là Phật tử mà công kích nhau như thế thì thật là một tội lỗi lớn. Sao ta lại công kích sự “tự xưng”, sự “tỏ ra” là Phật tử?
 
     Dầu người Phật tử khác không xứng đáng đến đâu, sự “tự xưng hoặc tỏ ra mình là Phật tử” vẫn là sự thực hành cần thiết, thành thật và đáng kính. Nay ta công kích việc ấy là ta công kích sự tu hành (đó là sự tu hành rồi vậy), sự cần thiết, sự thành thật, sự đáng kính và như vậy là công kích đức Phật, là tự công kích mình. Tội lỗi không thể dung được. Chúng ta đừng vì tập quán “chỉ trích người, công kích người” mà phạm vào tội lỗi ấy.
 
     Có những vị nghĩ rằng tự xưng hoặc tỏ ra “mình là Phật tử” thì ngại cho nghề nghiệp bất chánh của mình, thiệt thòi cho sự cạnh tranh quá đáng của mình, có lắm khi lại làm một sự mỉa mai cho cử chỉ và lời tiếng “không nhịn thua” của mình. Nhưng nếu thế thì sự “tự xưng là Phật tử”, sự “tỏ ra mình là Phật tử” quả là một điều vô thượng, một sự cần thiết vô cùng rồi. Sao ta không thực hành một việc giản dị mà lợi ích ấy?
 
     Hiện nay có những người tự xưng là Phật tử mà mê tín, quấy quá. Những người này càng tự xưng là Phật tử lại càng làm cho người hiểu lầm đạo Phật. Phần đông người ta hiểu một đạo bằng cách theo thói quen nhìn vào người tự xưng là tín đồ đạo ấy. Cho nên những người mê tín, quấy quá, đã làm cho phần đông hiểu lầm đạo pháp vì sự tự xưng là Phật tử của họ. Thế rồi có các người Phật tử khác muốn đừng lẫn lộn với những người ấy, nên không muốn tỏ ra “mình là Phật tử” mà có khi lại công kích những người ấy nữa. Ấy là một cử chỉ không đúng tí nào. Những người tự xưng là Phật tử mà làm cho người hiểu lầm đạo Phật của ta, thì giờ chính chúng ta phải tự xưng, phải tỏ ra “mình là Phật tử” để cải chính lại.
 
     Muốn người ta không hiểu lầm Phật pháp, những người Phật tử phải tự tỏ rõ mình ra. Huống chi so với những người kia, ta còn kém nhiều: họ thành thật và can đảm hơn một cách rõ rệt. Nói rằng họ tự xưng như thế làm cho đạo pháp bị hiểu lầm, bị ẩn khuất, thì ta cũng chẳng khác gì; ta làm cho đạo pháp bị hiểu lầm, bị ẩn khuất vì sự làm thinh, sự che giấu, sự kém thành thật, sự kém can đảm của mình. Lắm khi cử chỉ làm thinh, không tỏ ra “mình là Phật tử” trước mọi người còn tai hại hơn: mọi người sẽ nghĩ rằng đạo Phật có hay gì vì chính những người tín đồ cũng không muốn tỏ ra mình là Phật tử. Hại biết ngần nào?
 
     Riêng đối với các vị Phật tử mê tín và quấy quá, ta phải tìm cách chuyển họ, chứ không được công kích. Là Phật tử mà ta công kích họ thì môi hở răng lạnh, ta công kích họ là ta gián tiếp tự công kích mình, tự gạt bỏ người đồng tín ngưỡng của mình. Họ quấy quá còn hơn những người ngoại đạo. Họ quấy quá nhưng đối với Tam bảo, mỉa mai thay, lắm khi còn trung thành và duy nhất hơn. Vả, xin quý vị nhớ, công kích chỉ trích không thể sửa đổi người mà chỉ gạt người ra khỏi đạo pháp. Huống chi họ không phải là người đáng công kích. Nếu các vị chân chánh mà so sánh với họ thì hoàn cảnh chẳng khác gì những người thành phố sánh với người nhà quê: nhà quê không học thức nhưng tiền và sức của họ xây dựng lên thành phố, người thành phố hưởng của họ lại kiêu hãnh với họ một cách lố bịch.
 
     Chúng ta cũng vậy: xây dựng và duy trì đạo pháp là lực lượng chung mà ta là người phước duyên được hưởng đạo pháp khá, thế thì ta phải cám ơn người kém hơn ta mới phải, sao lại công kích? Cho nên việc ta làm là phải khuyến dẫn họ, một trong những khuyến dẫn ấy là làm sao cho họ “tỏ ra mình là Phật tử” trước mọi người và trong mọi trường hợp. Và cách khuyến dẫn hay nhất là chính ta phải làm như thế trước.
 
    Có những người không “tỏ ra mình là Phật tử” đến nỗi không tụng kinh, ăn chay một cách bộc lộ công nhiên. Có khi họ đến đạo Phật với một thái độ tán thành, thiện cảm. Rồi dừng lại ở đó. Họ không muốn “tỏ ra mình là Phật tử” để cá nhân được rộng rãi hơn: đến với ai cũng được mà không có một tín ngưỡng, một lý tưởng dứt khoát. Điều ấy là điều mà chúng ta, nhất là người trí thức, rất không nên làm, bởi như thế là chúng ta không thành thật với chính mình, thái độ là muốn bắt cá nhiều tay.
 
     Lại có những người Phật tử vin vào giáo lý không phân biệt nên lắm khi không những không “tỏ ra mình là Phật tử” trước những người đối lập với tín ngưỡng mình mà còn nói theo họ, làm với họ nữa. Nhưng tinh thần rộng lớn vô phân biệt là thấy ai khổ cũng cứu, mà cứu bằng cách dùng mọi phương tiện đem Phật pháp đến cho họ. Nói khác đi, là làm sao cho họ cũng thành Phật tử. Trong những trường hợp hợp tác với người đối lập Phật pháp, chúng ta phải xét có thể đi đến mục đích trên, hoặc ít ra có lợi cho Phật pháp, mới được làm.
 
     Còn khi ta là Phật tử mà hợp tác với người đối lập tín ngưỡng mình không vì chuyển hóa họ, không vì lợi ích đạo pháp, mà vì bất cứ một lý do nào, dù là lý do của cá nhân mình đi nữa, cũng hại cả. Cái hại thứ nhất là phạm giới tam quy: không theo thiên thần quỷ vật (ai chủ trương không có Phật pháp cũng là quỷ vật cả), không theo ngoại đạo tà giáo (thỏa mãn cách gì cho loài người mà không làm cho người tín ngưỡng Phật pháp cũng là tà giáo) và không theo tổn hữu ác đảng (ai chủ trương công kích Phật pháp cũng là tổn hữu ác đảng cả). Cái hại thứ hai là làm theo, nói theo những người đối lập tín ngưỡng Phật pháp tức là mình tự khinh thị và làm cho họ khinh thị tín ngưỡng của mình.
 
     Người tự trọng không bao giờ chịu nhục khi tín ngưỡng của mình bị khinh thị. Huống chi mình tự khinh thị tín ngưỡng của mình. Có người nghĩ rằng mình làm với người như thế, người sẽ khen mình quảng đại, không cố chấp, hẹp hòi, mình dũng cảm trước điều dẫu không hợp với Phật pháp. Nhưng khen thế tức là chê đấy: người ta chê sự tín ngưỡng hời hợt của mình, người ta thấy mình dễ lung lạc, tai hại hơn nữa, người ta sẽ thấy mình có thể làm trái tín ngưỡng của mình, làm trái quyền lợi của đạo mình, tức là tín ngưỡng của mình và đạo của mình không đáng gì. Nhưng quả có phải không đáng gì hay không? Chỉ mình không “tỏ ra mình là Phật tử” thì mới không đáng gì mà thôi.
 
     Tôi từng thấy một đạo hữu hòa nhã đưa tượng Phật đeo nơi ngực ra cho một người đối lập với tín ngưỡng mình:
-       Xin lỗi ngài, tôi đã là một Phật tử.
Thế là người kia tỏ ra cử chỉ hiểu biết ngay. Một thanh niên Phật tử khác từ chối hiền hòa một sự nài ép:
-       Tôi là Phật tử, hoạt động không hết những điều lợi người của đạo Phật rồi.
Một người khác không cúng tiền cho một tổ chức từ thiện ngoài tổ chức của đạo Phật:
-       Xin lỗi ngài, chúng tôi đang làm từ thiện trong phạm vi Phật giáo của chúng tôi; chúng tôi là Phật tử.
 
     Chắc các vị sẽ hiềm rằng thế nó hẹp hòi quá. Nhưng không đâu. Trong đạo pháp ta không thiếu một địa hạt nào cho ta hoạt động những điều ích lợi quần chúng. Chỉ e chúng ta không đủ sức làm cho vừa sự đòi hỏi của đạo pháp. Các vị bị người ta công kích là “người Phật tử kém hoạt động những điều có ích”, bị công kích như thế, các vị khó chịu, nhiều vị lại hỏi sao đạo pháp ta kém hoạt động, trong khi đó, các vị đi hoạt động theo người, cho người! Mình không làm cho mình, để bị công kích, trong khi đó đem việc làm của mình đi làm cho người để người công kích. Không những họ công kích, họ còn khinh thị mình theo đuôi họ nữa. Thật là điên đảo!
 
     Thường thấy có nhiều người phàn nàn Phật giáo chúng ta kém tổ chức, kém thế lực, kém rầm rộ. Có lẽ nghĩ thế nên có người không “tỏ ra mình là Phật tử”. Nhưng cái kém trong Phật pháp, cái kém đáng gọi là kém, là không tu hành, không thực hành theo Phật pháp, không thành thật tỏ ra mình là Phật tử. Còn nếu tất cả đều tỏ ra mình là Phật tử, dầu chỉ tỏ ra một cách tương đối thì tự nhiên Phật pháp ích lợi mình người. Tôi chỉ nói sự ích lợi, ích lợi chân thật theo Phật pháp mà thôi. Còn sự thế lực, sự rầm rộ thì có khi không hợp với Phật pháp. Ta hãy tìm nơi Phật pháp những lực lượng lẽ phải, sự rầm rộ ích lợi, còn thế lực và rầm rộ vô ích thì chắc chắn không bao giờ có.
 
     Nói thế là tôi muốn các vị để ý hai thứ lực lượng rầm rộ. Tôi muốn nhắc lời đạo hữu Malalasekera, Hội trưởng TỔNG HỘI PHẬT GIÁO THẾ GIỚI chúng ta đã nói với chúng ta: “con rắn hổ mang (Cobra) dương oai mà người chết, con rắn hổ đất (Serpent à sonnette) dương oai mà người không hại gì”. Chúng ta chỉ tỏ lực lượng rầm rộ và cần phải tỏ lực lượng rầm rộ, để mà làm việc phải làm của chúng ta, thực hành giáo lý của Phật. Mà muốn vậy thì “tỏ ra mình là Phật tử” cần lắm, cần thiết một cách trực tiếp trong việc ấy.
 
     Trên đây là chúng tôi muốn nói với các vị Phật tử không “tỏ ra mình là Phật tử” vì lý do này hay vì lý do khác. Nhưng ngoài ra, có những người tự coi mình là đạo dòng của đạo Phật, ông bà cha mẹ và thân quyến mình đều là Phật tử, vì vậy mà tự nhiên quá hóa ra vô lý, không “tỏ ra mình là Phật tử” trước mọi người, mọi trường hợp. Những người ấy quả như một người Phật tử Mỹ nói “Phật tử Á đông sống nhờ Phật pháp nhưng lâu ngày họ quên đi, ví như nhờ không khí mà loài người được sống, nhưng ít ai nhớ đến không khí”. Sự nhận xét ấy quả là đúng. Nhưng tại sao ta lại hời hợt với chính sự tín ngưỡng của chúng ta đến nỗi ấy?
 
     Lại có người đáng khen là thường đeo tượng Phật, tượng Bồ tát nơi ngực, nhưng không chào hỏi nhau. Phật tử chúng ta đáng lý phải giúp nhau, đồng vui đồng khổ với nhau, nhưng không được thế thì ít ra là cũng chào hỏi vui vẻ với nhau. Khi gặp nhau giữa đường, trong chợ hay nơi hội họp, chỗ công cộng, bất cứ ở đâu, chúng ta củng phải chào nhau, hỏi nhau, tỏ tình thân ái với nhau. Và chính điều ấy là “tỏ ra mình là Phật tử” và tỏ ra, hơn nữa, gây ra “lực lượng của Phật tử” chúng ta vậy.
 
                                      *
 
Biết sự “tỏ ra mình là Phật tử” là cần thiết rồi, vậy mong toàn thể các vị Phật tử tại gia hãy chú ý mấy điều tối thiểu sau đây:
 
-       Thường đeo tượng Phật.
-       Thường chào hỏi các thầy và chào hỏi nhau.
-       Thẳng thắn tỏ ra mình là Phật tử trong mọi trường hợp.
-       Không nói và làm theo người đối lập với đạo pháp của mình khi thấy sự nói và việc làm ấy không chuyển hóa được họ, không lợi cho danh dự và quyền lợi của đạo pháp mình tôn thờ.
-       Tự mình và khuyên cả nhà ăn chay mỗi tháng hai ngày rằm và mồng một.
-       Tự mình và toàn gia hãy niệm Phật to tiếng (niệm to) mỗi tối trước khi đi ngủ. Đọc được bài Sám hối càng tốt. Hãy ngồi trên giường ngủ mà niệm và đọc.
-       Mỗi tháng đến chùa hay Niệm Phật đường ít nhất một lần.
 
Không cần nói người xưa, hiện bây giờ đây vẫn có những người Phật tử uống thuốc độc để “tỏ ra mình là Phật tử”, có những em Phật tử quyết liệt “tỏ ra mình là Phật tử” trước sự thù ghét, dọa nạt. Có những đạo hữu và những em Phật tử tin tưởng ở Phật, tin lý nhân quả, thản nhiên thờ Phật, tụng kinh, ăn chay như thường ở những nơi thôn dã bây giờ, bao bọc chung quanh họ đầy sự đe dọa trực tiếp đến tánh mạng.
 
Đức Phật vô thượng, Phật pháp vô thượng, được vinh dự làm Phật tử, ta hãy “tỏ ra mình là Phật tử” để xứng đáng với vinh dự ấy.
 
 
Trí quang
8.5.2495 (1951)
(Trích Tâm ảnh lục, tập 2, in lại trong Tâm ảnh lục  2009, trang 400-415)