Sunday, July 31, 2011

Vịt Quay Chay

 Tác giả: Hoàng Tâm



Làm Vịt Chay:
-đậu hủ ky cây
-nước nóng
-muối

*Đậu hủ ngâm nước nóng cho mềm, vắt ráo, trộn với chút muối. Xếp đậu hủ vào dĩa cho "ngay hàng thẳng lối" rồi dùng vật gì nặng đè nén lên đậu hủ. Hấp chừng 1 tiếng là được, để thật nguội trước khi chế biến các món ăn.

Làm Vịt Quay:
Cho 1 lb "vịt" dùng
-1/3 muỗng cafe ngũ vị hương
-2 muỗng cafe nước tương
-1 muỗng cafe đường
-chút tiêu
-1 tai vị
-vài lát gừng

*Tai vị rang thơm, trộn chung với ngũ vị hương, nước tương, đường và tiêu. Chà gừng lên vịt rồi ướp vói các gia vì vừa pha chế. Ướp xong chiên cho vàng là được.
http://gocbep.net/index.php?view=story&subjectid=1201

Saturday, July 30, 2011

Những Niềm Vui Chân Thật (Xuân Mậu Thìn-1988) HT Thích Thanh Từ giảng

BÀI NÓI CHUYỆN VỚI PHẬT TỬ


XUÂN MẬU THÌN 1988

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thưa tất cả quí Phật tử,

Mỗi năm đến ngày Tết Nguyên Đán, tất cả Phật tử gần xa đều tựu hội về

đây để trước là lễ Phật, nhân ngày vía đức Di-lặc, sau là để mừng tuổi chúc thọ

chư Tăng. Phần lễ Phật đã xong, đến phần chúc mừng năm mới.

Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta tu không phải là mỗi năm khi Tết đến

chúc mừng nhau sống lâu trăm tuổi muôn tuổi. Chúc như vậy không có kết quả gì,

lời chúc đó chỉ rỗng suông thôi. Vì vậy thay vì chúc thọ suông chúng tôi sẽ nói

chuyện với quí Phật tử gọi là nhắc nhở đường lối tu hành trong ngày đầu năm,

đồng thời cũng là chúc mừng nhau trên đường tu mỗi ngày một thăng tiến, chớ

không để dừng lại một chỗ mãi mãi. Vì lẽ đó ngày hôm nay thay vì chúc Tết

thường, chúng tôi sẽ nói về cái vui của đời và cái vui của đạo trong mùa xuân cho

quí Phật tử nghe.

Tất cả Phật tử, sang đầu xuân ai ai cũng thấy đó là mùa vui tươi, mùa ấm áp,

mùa hy vọng, cho nên tất cả cùng chúc mừng, cùng vui vẻ với nhau. Vì vậy chúc

xuân hay là vui xuân đã có từ xưa đến giờ. Hôm nay chúng ta phải tìm cho thấu

đáo, cho tường tận thế nào là vui xuân, cái vui thật sự của cuộc đời và cái vui thật

sự trong đạo. Hai cái vui đó nó gần nhau hay không? Nó có lợi ích thiết thực như

thế nào? Đó là điều chúng tôi sẽ nói chuyện với quí vị hôm nay:

Trước hết chúng tôi nói cái vui của đời.

Quí vị thường thấy ở ngoài đời những lúc nào chúng ta được vui mừng? Đó

là lúc chúng ta được một cái gì hơn thiên hạ, phải vậy không? Được cái gì thắng

hơn người, lúc đó chúng ta vui. Hơn người đó là cái vui của mình, có phải vậy

không? Thí dụ như quí vị đi vào các cuộc chơi như cuộc đá banh hay cuộc đánh cờ

v.v… Khi mình cười là lúc nào? Lúc thua hay là lúc thắng? Lúc thắng thì vỗ tay

hoan nghênh cùng vui, cùng cười. Nhưng khi chúng ta thắng chúng ta cười, những

người thua cuộc ra sao? Tự nhiên họ phải buồn khổ! Như vậy cái vui của cuộc đời

là vui khi mình thắng, mà người thua phải buồn. Thế thì cái vui của chúng ta là cái

vui trọn vẹn của người trong cuộc, hay là chỉ có một người vui rồi một người buồn,

hay là một nhóm vui rồi một nhóm buồn? Như vậy cái vui của đời là vui trong

thắng cuộc, mà mình thắng thì người khác phải thua, kẻ thắng thì vui, người thua

phải khổ, phải vậy không? Rõ ràng chúng ta vui trong cái đau khổ của người khác,

chớ không phải là cái vui trọn vẹn, lẽ thật là như vậy. Người thế gian nghĩ rằng

làm sao cho mình được vui, nghĩa là mình chơi thế nào cũng phải hơn người, thế

là mình được vui. Nếu một lần thua là một lần buồn. Những người khác họ đến

với chúng ta, họ chơi với chúng ta, họ cũng muốn hơn để họ được vui. Như vậy

vui đó là vui trong giành giựt hơn thua, ai được hơn thì vui, ai bị thua thì khổ. Như

vậy mới thấy rõ cái vui của thế tục là cái vui trong đau khổ.

Ngược lại, cái vui của người tu khác hơn cái vui của người thế tục. Người

thế tục vui khi thắng được người, người tu vui khi thắng được mình. Thí dụ người

Phật tử khi bị ai nói những lời kích bác làm cho tự ái mình nổi lên, vừa khi cơn

sân bừng bừng nổi dậy, lúc đó mình liền tỉnh biết cái sân này là xấu, là không

xứng đáng với người Phật tử, vừa biết như vậy mình liền ném nó xuống hay bỏ nó

đi. Do mình buông bỏ, qua được cơn nóng giận, mình cảm thấy bình tĩnh trở lại,

lúc đó mình có vui không? Mình vui vì mình đã thắng được mình, mình đã chiến

thắng chớ không phải đầu hàng. Như vậy một lần thắng được mình là một lần vui.

Cái vui đó có làm ai khổ hay không? Rõ ràng mình vui mà người kích bác mình

họ thấy mình không trả lời, không phản đối, họ cũng không có buồn phải vậy

không? Như vậy cái vui đó mới là cái vui trọn vẹn, vui thắng mình mới là cái vui

trọn vẹn. Cái vui thắng người là cái vui của đau khổ, chớ không phải cái vui thật,

mà người đời cứ đuổi theo cái vui đó để người khác phải khổ. Người biết tu chỉ

vui trong cái thắng mình: một lòng tham dấy lên mình thắng được nó là mình vui,

một cơn giận nổi lên mình thắng được nó là mình vui, những cái cám dỗ mà mình

thắng được nó là mình vui. Những cái vui đó chỉ có lợi cho nội tâm mình mà

không có hại cho ai. Như vậy cái vui của đạo mới là cái vui thật sự, vui mà không

có khổ cho ai. Đó là bước thứ nhất.

Đến bước thứ hai, người đời vui khi nào họ được. Thí dụ như họ đi đường

thấy ai làm rớt một món đồ quí giá, họ lượm được, lúc đó vui hay buồn? Dĩ nhiên

lúc đó rất là vui. Mình được may mắn mình vui, nhưng người mất vật quí có vui

không? Cái được mà mình vui đó đổi lại bao nhiêu nước mắt của kẻ bị mất. Hơn

nữa, như trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta làm cái gì gặp thời gặp thế, mua

đâu được đó, bán đâu đắt đó, cái gì cũng hơn người, cái gì cũng được, khi đó mình

vui quá, nhưng người khác thì sao? Thí dụ như ngày hôm qua mình mua món đồ

giá một ngàn đồng, hôm nay bỗng dưng lên giá một ngàn rưỡi đồng, mình vui quá

vì mình được lời nhiều, nhưng người bán cho mình hôm qua, người đó có buồn

không? Tất nhiên là buồn, vì họ lỗ, họ thiệt thòi mà mình được vui. Như vậy cái

được của mình là vui, mà cái vui của mình là cái buồn của kẻ khác.

Người Phật tử chúng ta nếu biết vui thì phải vui làm sao? Không phải vui

trong cái được, mà vui trong cái lìa. Nghe nói thì quí vị buồn quá, lìa mà vui cái gì?

Nhưng không ngờ lìa mới là vui. Người đời được là vui, trái lại người tu lìa mới là

vui. Tại sao lìa là vui? Thí dụ như mình khi trước bị bệnh ghiền thuốc nó hành

mình cay đắng, tốn tiền tốn bạc. Bây giờ mình bỏ được bệnh ghiền thuốc, có vui

không? Lìa được bệnh ghiền đó là vui, mà vui đó có ai khổ không? Niềm vui đó

làm cả nhà vui lây, phải không? Như vậy đó mới là cái vui thật. Hồi xưa mình say

rượu mê man, nay quán này mai quán nọ, bao nhiêu tiền cũng không đủ. Bây giờ

mình bỏ rượu tức lìa được rượu, gia đình mình vui không? Mình thắng được rượu,

mình lìa được ghiền rượu, bản thân mình vui mà gia đình cũng vui. Như vậy do lìa

mà vui đó là người tu, do được mà vui đó là người đời. Khi mình biết tu, lìa những

bệnh ghiền rượu, ghiền thuốc, ghiền á phiện, tất cả những bệnh ghiền mình bỏ

được, đó là vui.

Xa hơn nữa, lìa được ngũ dục ở thế gian đó là nguồn vui chân chánh của

người học đạo. Người tu thiền khi được định Sơ thiền gọi là ly sanh hỉ lạc. Ly tức

là lìa, lìa cái gì? Lìa cái mê đắm ngũ dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm điều này

mà mình lìa được không dính không nhiễm nữa gọi đó là ly. Lìa được ngũ dục rồi

thì lòng mình khoan khoái nhẹ nhàng gọi là được định Sơ thiền: ly sanh hỉ lạc. Thí

dụ khi trước mình có tật thích đi xem hát, có gánh hát nào lại gióng trống đi ra là

mình nôn nao phải đi xem hát cho kỳ được. Bây giờ biết tu, khi nghe gánh hát

gióng trống, mình nhất định thôi bỏ không đi xem hát. Cho đến khi gánh hát dọn

đi mà mình cũng không bén mảng tới rạp hát. Đó là mình thắng hay mình thua?

Mình lìa được cái mê xem hát, đó là mình thắng, mình cảm thấy vui. Cái vui đó có

tốn hao xu cắc nào đâu, không tốn tiền, không tốn bạc mà mình được sự an ổn. Cái

vui đó do lìa mà được. Do xa lìa ngũ dục, không bị nhiễm trước, chúng ta được

vui, gọi đó là ly sanh hỉ lạc được định Sơ thiền.

Kế nữa người đời thích vui, vui trong cảnh nhộn nhịp, vui nơi chỗ đông đảo

ồn ào. Thí dụ như chỗ nào là chỗ vui của người đời? Rạp hát, sân đá bóng, phòng

trà v.v… Những chỗ đó có chỗ nào là yên tĩnh đâu, toàn là chỗ nhộn, chỗ ồn.

Nhưng đó là nơi họ vui nên họ tìm tới. Nhưng cái vui ồn náo nhộn nhịp đó có lâu

bền hay không? Thí dụ như nơi rạp hát, khi người hề họ khéo giễu làm cho mình

cười, cười ồ lên, mình cười đến nôn ruột đi nữa, nhưng một lát khi ra về, rồi cũng

hết cười. Mình chỉ cười được khi trước mắt mình thấy, lỗ tai mình nghe những

chuyện họ khéo gợi, lúc đó mình vui. Ra khỏi nơi đó rồi, không được vui nữa,

nhất là đi xem hát tới mười một giờ mười hai giờ đêm mới về, vừa đi dọc đường

vừa buồn ngủ, lúc đó có vui không? Hết vui rồi. Hơn nữa nếu tiền bạc mình eo hẹp,

khi xem hát ra về, túi tiền mình sao nó trống rỗng! Nhớ lại ngày mai không đủ tiền

mua gạo, lúc đó có còn vui không? Cho nên cái vui mình muốn thấy, muốn được ở

chỗ ồn náo, cái vui đó chỉ là vui nhất thời, tạm bợ, không có lâu bền.

Ngược lại, người học đạo, người biết tu không thích cái vui ồn ào mà lại

thích vui trong yên lặng, ngồi những nơi yên tĩnh, một mình nhìn trời, nhìn mây,

ngắm hoa ngắm kiểng, lòng mình phơi phới nhẹ nhàng. Cái vui đó là vui của

người trong đạo. Vì vậy người biết tu thiền lấy vui thiền định làm niềm vui của

mình, cho nên gọi Nhị thiền là định sanh hỉ lạc. Do tâm được yên định sanh ra vui

mừng, cái vui mừng đó có tốn hao gì không? Do tâm định, vui mừng phát ra,

không có tốn hao gì cả. Vui trong yên định là cái vui sáng suốt, tỉnh táo, khỏe

khoắn, an nhàn, không phải cái vui ồn ào, nhọc nhằn mỏi mệt. Vui ở chỗ nhộn

nhịp làm cho mình mất sức khỏe, tiêu hao nghị lực, vừa tốn của vừa tốn công, vừa

làm cho mình phải suy mòn sức lực. Vui của người tu, nơi yên lặng, trong lúc

thiền định, cái vui đó nhẹ nhàng thanh thoát, tâm hồn sáng tỉnh đó mới là cái vui

chân thật.

Kế nữa, người đời vui trong mê lầm, không phải vui trong tỉnh giác. Mê

lầm là sao? Thí dụ đánh bạc họ cho đó là vui. Cái vui đó có phải là vui thật không.

Khi đánh mà ăn thì vui, nếu thua thì khổ. Mà đánh bạc trăm lần đều ăn hết hay sao?

Như vậy cờ bạc là khổ mà người ta tưởng là vui, rồi phải tốn tiền khổ sở. Đến

sòng bạc mà họ nói là đi mua vui, cái vui đó là vui trong mê lầm. Rồi đến uống

rượu họ cho là vui. Thí dụ năm bảy người rủ nhau tới quán rượu, chén thù chén tạc,

người nào người nấy say lúy túy, cái đó vui không? Người đời cho ăn nhậu là vui,

nhưng khi say lúy túy rồi nôn mửa, có vui không? Ngồi quán uống rượu họ cho đó

là vui nhưng sự thật là rượu làm cho sức khỏe tiêu mòn, tiền bạc tốn hao, tăng

trưởng si mê. Như vậy có phải là vui trong mê lầm hay không?

Đối với người học đạo, người Phật tử, vui của mình là vui giác ngộ. Thí dụ

đang ngồi thiền có vấn đề khi trước mình không hiểu, nay bỗng dưng mình hiểu,

hiểu đó thật là vui, có khi vui quá mình cười to lên… Đó là do giác ngộ mà vui.

Hoặc khi mình đang đi, một vấn đề khi trước mình chưa thông, bỗng dưng tâm

mình sáng ra mình hiểu được, lúc ấy vui không? – Rất là vui do giác ngộ mà vui.

Cái vui đó có nhọc nhằn tốn hao gì đâu. Càng vui thì trí tuệ càng sáng phải không?

Cái vui đó đưa chúng ta đến chỗ an lạc hoàn toàn vì đó là cái vui của giác ngộ giải

thoát. Ngày xưa các vị Thiền sư ngồi tu, đến khi các ngài bừng ngộ, các ngài rất là

hoan hỉ. Do giác ngộ mà các ngài hoan hỉ. Như vậy cái vui của người tu khác với

cái vui của người đời. Người đời lấy mê lầm cho là vui, người tu do giác ngộ mà

vui.

Thêm nữa, người đời vui trong ràng buộc. Ràng buộc là sao? Là thương

yêu, quyến luyến. Thí dụ như bà nội có được một đứa cháu nội, nó chạy theo nắm

tay bà nũng nịu, bà nội vui không? Hoặc đứa cháu ngoại nó chạy theo nói ríu rít đủ

điều, bà ngoại thương không? Càng vui, càng thương, càng phải lo nhiều. Vì

thương cháu quá, cho nên rồi lo cho nó ăn ngon, lo cho nó mặc đẹp… Lo hết con

tới cháu, lo hoài đến ngày nhắm mắt cũng chưa xong. Vui như vậy là vui trong

ràng buộc.

Hơn nữa, người nào được nhiều người thương, người đó vui không? Thấy

mình được thiên hạ quí trọng, kính nể, lúc đó là vui. Nhưng một người thương

mình là một sợi dây trói buộc, hai người thương, là hai sợi dây, mười người

thương là mười sợi dây… Thương nhiều thì gỡ khó. Vậy mà người ta vui được

thiên hạ thương, được thiên hạ chú ý, quí mình như ngọc như ngà v.v… Do đó,

người đời càng vui, thì càng đắm mình trong sự trói buộc, trói buộc trong tình

thương gia đình, tình thương con cháu tình thương những người chung quanh

v.v… càng thương nhiều thì càng bị buộc nhiều!

Ngược lại người tu, nhất là người tu Phật, vui là khi giải thoát. Những gì

ràng buộc, làm cho mình bị rối rắm, phải cắt bỏ nó đi. Cắt bỏ được một mối là vui

mừng một mối. Cắt bỏ đây không có nghĩa là bỏ chồng bỏ con… mà cắt bỏ là bỏ

những tình thương không lợi ích mà còn gây thêm tai hại cho mình. Thí dụ như

người đó với mình không phải là thân thuộc mà họ nói những lời ngọt ngào,

những lời thương yêu rồi mình tưởng họ thương thật, tự nhiên mình tự trói mình

rồi mình khổ. Ở thế gian có những lời nói không đúng với tâm niệm, họ nghĩ một

đàng mà nói một nẻo để cầu lợi, để nắm giữ những gì họ thích. Mình phải biết rõ

những lời nói đó không phải thật, đừng để bị cột trói. Tình thương chân thật nhất

là tình thương cha mẹ với con cái, mà có khi còn phai nhạt, có khi còn gặp những

đứa con bất hiếu thay! Huống nữa là những người ngoài chắc gì họ thương mình

thật, mà nghe nói họ thương, mình vui mừng thích thú, e rằng có ngày sẽ phải khổ.

Vì vậy những tình cảm thương yêu quyến luyến vô tình trói cột làm cho mình phải

khổ! Người tu lấy sự giải thoát làm vui, không thể bị trói buộc bởi những tình cảm

riêng tư và những ngũ dục bên ngoài.

Người đời nghĩ rằng cuộc đời mình phải được an vui hạnh phúc, nhưng từ

thuở nhỏ cho đến hiện nay năm mươi, bảy mươi tuổi, quí vị thấy đời mình vui

nhiều hay khổ nhiều? – Khổ nhiều! Vì sao mình muốn vui mà lại khổ? – Vì mình

muốn vui mà vui trên cái khổ của người khác, cho nên người khác cũng muốn vui

mà vui trên cái khổ của chính mình. Vì sát phạt lẫn nhau để được vui, nên cái vui

đó khó mà được vẹn toàn. Những người từ sòng bạc đi ra đâu phải ai ai cũng đều

hớn hở. Trong mười người, độ hai người vui mừng, còn tám người thì âu sầu đau

khổ. Như vậy tại sao người ta cứ đến sòng bạc mãi? Tám lần khổ chỉ có hai lần vui.

Có khi đủ cả mười lần khổ là khác!

Ở đời nếu chúng ta tìm vui trong sự thắng người, trong cảnh nhộn nhịp

v.v… thì cái vui đó chỉ là tạm bợ mong manh, không lâu bền được. Chúng ta phải

tìm những niềm vui chân thật ở đạo: vui khi thắng mình, lìa được những tật xấu;

vui khi được ở chỗ yên tịnh, tâm hồn được an ổn; vui khi được tỉnh giác, thoát ly

được những buộc ràng. Nếu sáng suốt chúng ta tìm cái vui chân thật, thì cái vui sẽ

lâu dài bền bỉ, còn mê lầm chúng ta sẽ đuổi theo những cái vui giả dối thì vui ít mà

khổ nhiều. Mong rằng quí vị luôn luôn sáng suốt để được an vui hạnh phúc mãi

mãi.

Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay chúng tôi đọc bốn câu kệ sau đây để

quí vị dùng làm kim chỉ nam trong năm mới:

Nguồn vui mãi vô tận,

Khi nhìn ánh nguyệt chân.

Nơi nơi đều cực lạc,

Phút phút hiện chân thân.

Nguồn vui mãi vô tận, là nguồn vui nào?

Khi nhìn ánh nguyệt chân: Khi nhìn thấy mặt trăng thật, là mặt trăng nào?

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói mặt trăng thật và mặt trăng thứ hai, chúng

tôi nói thêm nữa là bóng mặt trăng. Mặt trăng chân thật chỉ tâm thể bất sanh bất

diệt của mình, mặt trăng thứ hai chỉ cái chân thể đó hiện nơi sáu căn, còn bóng mặt

trăng là chỉ ý thức duyên với pháp trần. Muốn được nguồn vui vô tận là khi nào

mình thấy được mặt trăng chân thật. Khi ấy thì thế nào?

Nơi nơi đều cực lạc: Nơi nào cũng cực lạc, không phải chỉ riêng cõi Tây

phương.

Phút phút hiện chân thân: Phút nào cũng hiện cái thân chân thật.

Chúng tôi xin chúc tất cả quí Phật tử sang năm Mậu Thìn này được một

nguồn vui vô tận khi nhìn thấy mặt trăng thật, rồi nơi nào cũng là cực lạc, giờ nào


cũng là Niết-bàn. Đó là lời chúc lành của chúng tôi gởi đến quí vị.

NAM-MÔ BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.

􀁄

Mỗi ngày một việc thiện

Chào các bạn,




Tất cả mọi vị thầy của tất cả mọi môn học trên thế giới đều xác nhận với bạn là muốn nhuần nhuyễn môn học của họ, bạn phải luyện tập hàng ngày. “Thường xuyên” là yếu tố quan trọng nhất cho tinh tấn, dù đó là toán, hội họa, khiêu vũ, võ thuật, tư duy tích cực, thiền…



Một trong những cách giản dị và dễ nhất để luyện tập tư duy tích cực, thiền tâm, và tâm nhân ái là “Mỗi ngày một việc thiện.”



Thực ra chúng ta đã thường làm mỗi ngày hơn một việc thiện rồi. Ta chỉ không nghĩ đến mà thôi. “Mỗi ngày một việc thiện”, hoặc cho chính mình hoặc cho người khác, chẳng làm ta nặng gánh thêm tí nào, ngoại trừ nó nhắc ta ‎ý thức đến điều ta làm mỗi ngày mà thôi.



Có rất nhiều việc thiện lớn nhỏ ta có thể làm mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật:



1. Việc thiện cho mình:



• Nhịn hút một điếu thuốc lúc đang lên cơn thèm.

• Đang muốn nằm nướng, nhưng đứng dậy đi bơi.

• Đang lừ nhừ, làm một ly cà phê, mở của đứng uống cà phê nhìn mặt trời lên trên ngọn cây.

• Đi bộ một quãng sau khi ăn tối.

• Đang tức giận việc gì đó, mở nhạc nhẹ nghe và ngủ một giấc cho quên giận.



2. Việc thiện cho người khác:



• Nhường chỗ cho một phụ nữ trên xe bus.

• Đưa một cụ già qua đường.

• Cho một người ăn xin một tí tiền.

• Cho người hàng xóm mượn một đồ vật cần dùng.

• Tính mắng ai đó một câu, nhưng nuốt nước bọt rồi mỉm cười.

• Tính làm gì đó để đì ai đó cho hả giận, nhưng niệm (phật hay chúa) một câu rồi quyết định không làm.

• Nhặt một mảnh rác và bỏ vào thùng rác gần đó.

• Ai đó sửa soạn đánh nhau, nói vài lời can ngăn.



Đại loại là như thế. Việc thiện đầy dẫy quanh ta, chỉ cần mở mắt một tí thì thấy bao nhiêu là cơ hội để làm, mà lại chẳng tốn tí công sức gì của ta cả.



“Mỗi ngày một việc thiện” có ảnh hưởng rất lớn đối với chính ta và xã hội của ta. Việc thiện của ta có ảnh hưởng trực tiếp đến 3 nhóm người:



1. Người được ta giúp: Hoặc là họ nhận một điều thiện từ ta, hoặc là không nhận một điều ác từ ta, đó đều là điều tốt cho họ. Và họ sẽ nghĩ: “Ờ, thế giới này vẫn còn người tử tế.” Suy nghĩ như vậy là một năng lượng tích cực trong tâm của một người. Có cơ hội nó sẽ được nhân lên thành nhiều người.



2. Chính ta: Ý thức và hành động của “Mỗi ngày một việc thiện” là cách luyện tư duy tích cực và thiền rất hiệu quả. Có lẽ là ít có gì hiệu quả bằng, vì đây là luyện tập bằng hành động sống.



3. Những người nghe/thấy được việc thiện của ta: Như những người qua đường, nhìn thấy ta giúp một lão bà, họ sẽ nghĩ: “Ờ, thế giới này vẫn còn người tử tế”. Và năng lượng tích cực này trong họ sẽ được nhân lên khi có cơ hội.



Các bạn có thể thấy được sức mạnh của năng lượng tích cực này trên thế giới của ta nếu bạn chỉ làm một việc thiện một ngày, và cứ như thế cả đời không?



Mong các bạn nồng nhiệt tham dự vào “dự án cá nhân” này cho chính bạn, đồng thời chuyển message này đến bạn bè, mời gọi mọi người tham dự vào “dự án cá nhân” cho riêng họ; và như thế các “dự án cá nhân” của chúng ta đã là một “dự án xã hội”, cho thành phố, quốc gia, và thế giới chúng ta đang sống.



Chẳng có gì lớn lao. Nhưng ta chẳng nên quên là “Tiếng động của một cái khảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.”



Các bạn thỉnh thoảng hãy đến ghi vào phản hồi của bài này một việc thiện nhỏ bạn đã làm, để chia sẻ ‎ý tưởng với các bạn khác. Đây là sống. Đây không phải là phong trào kéo dài một vài tháng. Đây là dự án sống cả đời. Và bạn đã thường làm rồi, chẳng có gì mới, chỉ là suy nghĩ có hệ thống hơn. Thế thôi.



Chúc các bạn một ngày vui. Đừng quên chuyển message này đi. Chúng ta đã có một link thường trực trên ĐCN về “Mỗi Ngày Một Việc Thiện”.



Mến,



Hoành



http://dotchuoinon.com/2010/05/03/mỗi-ngay-một-việc-thiện/

Friday, July 29, 2011

Đối thoại thế nào? (Bài này cũng hay và vui ,cách cư xử và nói chuyện là cả 1 nghệ thuật sống ...)

Chào các bạn,




Hôm nay chúng ta hãy cùng chia sẻ về nghệ thuật đối thoại. Làm thế nào để có một đối thoại mang đến nhiều lợi ích cho mình?



Đối thoại nhiều lợi ích nhất là đối thoại mang đến đồng cảm, khi xong cuộc đối thoại cả hai người thấy hiểu nhau hơn và gần nhau hơn.



- Tranh luận sùi bọt mép vì anh thích A tôi ghét A không phải là đối thoại (hay ít ra thì cũng không phải là đối thoại ta nên có).



- Ngồi giả vờ ừ ừ dạ dạ nhưng chẳng nghe chữ nào, và đầu thì đang ở cách đó 200km, không phải là đối thoại.



- Ngồi nhìn người đối diện nói và nghĩ trong lòng: “Cách nói chuyện của anh này có vẻ ma đạo, mắt lấm la lấm lét, nói năng kiêu căng…” không phải là đối thoại. Đó là đánh du kích.



Đối thoại thực sự là tìm đồng cảm và chia sẻ đồng cảm. Đó là loại đối thoại tương tự như đối thoại của một đôi bạn nam nữ đang ngồi trong quán nước nói chuyện để chia sẻ và gần nhau thêm—chưa hẳn đã là người yêu, nhưng có thể đi về hướng đó.



Sau đây là một số điểm quan trọng ta cần lưu ý khi đối thoại:



1. Khi nghe câu nào, chữ nào mình không đồng ý (hoàn toàn hay một phần), thì ta thường có thói quen xấu là nói ngay “Không” , “Bậy”, “Sai rồi”, “Không phải vậy”, “Vô lý”, “Xạo”… Nói chung là một từ phủ nhận.‎ Các bạn, đây là một thói quen tồi tệ nhất. Dẹp nó đi.


Nói chuyện mà bắt đầu một câu với một từ thuộc loại đại gia tiêu cực như thế thì sức đẩy người kia ra khỏi mình rất mạnh.



Nếu không đồng ‎ý thì có nhiều cách nói. Ví dụ: Người kia nói “Obama làm hại nước Mỹ”. Nếu không đồng ‎ý lắm thì ta có thể:



- Hỏi thêm chi tiết, dữ kiện, để giải thích tại sao người kia lại kết luận như thế. Vậy thì hỏi: “Sao cậu nói vậy?”



- Chấp nhận ‎ý người kia nhưng làm nhẹ nó một tí: “Ừ, ông này có vẻ rất controversial. Nhiều người Mỹ rất thích ông ta, nhiều người rất kỵ”



- Chấp nhận ý kiến người kia nhưng nhẹ nhàng cho thêm ý kiến của mình: “Ừ, nhiều người cũng nghĩ như chị. Mình lại thấy ông này ít nhất là cho nước Mỹ và thế giới hy vọng cho những người thiểu số đã từng bị chà đạp.”



2. Rất nhiều người có thói quen (mà chính họ cũng không nhận ra) là khi đối thoại thì họ luôn luôn tìm cái gì bất đồng ý để tranh luận hoặc phê phán, thường là rất tiêu cực. Đối với họ đối thoại luôn luôn là đối địch. Tư duy này rất sai lầm, ta cần phải tránh, hoặc dẹp bỏ.


Ví dụ: “Ca sĩ ABC hát rất hay.” “Ôi, con mẹ đó giật chồng người khác mà hay cái gì!”



“XYZ là huấn luyện viên bóng đá rất giỏi.” “Ôi, thằng cha đó mở miệng thì chửi thề liền tù tì như người thất học.”



“Nước Mỹ có guồng máy hành chánh rất trong sạch.” “Ôi, mấy vụ scandal lớn nhất thế giới như Enron cũng từ Mỹ mà ra.”



Các bạn, đừng làm vậy!



- Mỗi khi nói chuyện với ai, ta phải tự bảo ta là “Tôi phải tìm cái gì để đồng ‎cảm với anh/chị này càng nhiều càng tốt.” Đối thoại là để tìm đồng ‎‎cảm, tức là đồng cảm xúc, chứ không phải tìm điểm bất đồng ý.



- Nếu mình có điểm không đồng ý nhưng chẳng liên hệ gì cả đến vụ việc thì lờ đi. Như là trong ví dụ ca sĩ ABC bên trên, chuyện “giật chồng người khác” chẳng ăn nhập gì đến “hát rất hay” cả, cho nên lờ đi là thượng sách.



- Nếu thấy có điểm không đồng ý, nhưng điểm này (i) có liên hệ đến vụ việc, và (ii) cũng quan trọng cho vụ việc, cần được nhắc đến, thì ta có thể nhắc đến, theo các phương thức đã nói tại phần (1) bên trên.



- Dù sao thì cũng luôn luôn tìm điểm đồng ý và bắt đầu câu nói bằng sự đồng ý. Như “Nhà nước quá trời tham nhũng”. “Ừ mình cũng thấy vậy, nhưng mình có cảm tưởng là mấy lúc gần đây có nhiều cố gắng thanh lọc guồng máy, trừng phạt nhiều người.”



3. Điểm quan trọng nhất là cố gắng nghe được quả tim của người đối diện. Nghe không chỉ bằng tai mà bằng tim là chính.



Ví dụ: Một người phụ nữ vừa mới có đứa con trai năm tuổi bị đụng xe chết. Chị ngồi nói chuyện với bạn, nhìn ra trời, lặng im, nước mắt lưng tròng và nói: “Ông trời kỳ quá.”



Nếu bạn không nghe được một biển nước mắt, một lòng tin mãnh liệt vào Ông trời, một khiêm cung vô cùng với Ông trời, và một lạc lõng chới với với Ông trời, trong bốn chữ nghe ra chẳng nói gì “Ông trời kỳ quá”, thì bạn chưa biết nghe bằng quả tim tí nào.



Phải tập lắng nghe bằng quả tim, nhìn người đối điện, nhìn thân ngữ của họ, lắng nghe từng chữ họ nói và cố hiểu cảm xúc trong tim họ. Cho đến lúc ai nói ra điều gì bạn cũng có thể cảm giác được cảm xúc mạnh mẽ của họ trong tim bạn–họ buồn trong tim, bạn cảm được buồn trong tim; họ khóc trong tim, bạn cảm được khóc trong tim…



Nói chuyện với người mà mình chưa biết thông tin bên sau thì thường là khó cho mình hiểu và cảm xúc hơn, nhưng nếu bạn tế nhị bạn có thể cảm được bề mặt, rồi từ đó tìm hiểu sâu hơn.



Ví dụ: Cùng ví dụ người phụ nữ có con chết bên trên nhưng bạn lại không biết được là chị ấy có con vừa mất, nhưng nhìn chị ấy rất buồn bạn có thể thấy được là có gì đó rất u uất. Như vậy bạn có thể hỏi rất tế nhị: “Hình như chị có tâm sự buồn?” (Chú ý: Câu này viết có dấu hỏi, nhưng cách nói không phải là cách hỏi. Đây là cách mở cửa lòng mình để chị ấy có thể chia sẻ tâm sự nếu chị ấy muốn, nhưng không ép buộc và tò mò tọc mạch như một câu hỏi “Chị có chuyện buồn phải không?”)



4. Đừng phán đoán khi nghe cảm xúc. Cố cảm xúc theo người nói, hơn là phán đoán.



Ví dụ: Một người tâm sự là ly dị cả 3 đời chồng, và mỗi lần ly dị là một lần rất đau khổ. Ta hãy cố gắng cảm nhận được nỗi đau của chị này mỗi lần ly dị, thay vì phán đoán thầm: “Ly dị liền tù tì vậy thì đau khổ gì? Nếu có thì cũng chỉ là hời hợt thôi.”



Phán đoán là ổ khóa của ngục tù tư tưởng. Nó làm ta mù lòa và chẳng hiểu được ai cả, chẳng hiểu được điều gì sâu xa cả.



5. Đừng bao giờ cố thuyết phục ai điều gì cả.



Chia sẻ với họ, đồng cảm với họ, hiểu và chấp nhận điều họ cảm xúc, chia sẻ tâm sự và cảm xúc của mình với họ, và nếu họ đồng ý ‎ thì họ đồng ý, nếu họ không đồng ý thì họ không đồng ý. Đừng push. Đừng thúc đẩy, ép buộc…



Hiểu biết và đồng ‎ý đôi khi cần nhiều thời gian. Có khi người ta đồng ý‎ ngay. Có khi vài ba ngày sau họ mới đồng ý. Có khi vài ba năm sau. Có khi vài ba chục năm sau. Có khi không bao giờ.



Cố thuyết phục quá chỉ làm cho người kia cảm thấy bị ép buộc khó chịu, cảm như mình không tôn trọng cảm xúc của họ, và như thế họ sẽ xa cách mình.



Ta tìm đồng cảm chứ không tìm đồng ý trong đối thoại. Hai người có hai ý khác nhau, như người thích ăn mắm tôm ghét nước mắm và người thích nước mắm ghét mắm tôm, không thể đồng ý cùng thích một món, nhưng có thể đồng cảm về cảm xúc của nhau.



Khi đối thoại, ta tìm điểm ta có thể đồng ý với người đối thoại, để ta có thể đồng cảm với người ấy. Nhưng ta không buộc người ấy phải đồng ý với ta, vì cứ đẩy như vậy thì sẽ mất đồng cảm.



Tóm lại, khi đối thoại, ta phải luôn luôn tự nhắc thầm là ta đối thoại để:



1. hiểu được người đối diện, không chỉ là câu chữ bên ngoài mà là cảm xúc sâu thẳm bên trong,



2. và ta chia sẻ lòng ta với người ấy để có đồng cảm (mà không cần đồng ý)‎,



3. và ta luôn bắt đầu bằng đồng ý với họ và giảm bất dồng ý của ta đến mức tối thiểu,



4. và ta nghe bằng quả tim ta, nghe quả tim của người ấy, nghe mà không phán đoán, nghe để đồng cảm mà thôi.



Hậu quả của đối thoại như thế là ta gần mọi người hơn, mọi người gần ta hơn, và ta đã tạo ra được rất nhiều năng lượng tích cực cho thế giới từ liên hệ thân ái sâu sắc giữa ta và mọi người.



Chúc các bạn một ngày đầy cảm thông.



Mến,



Hoành



© copyright 2010

Trần Đình Hoành

Permitted for non-commercial use

www.dotchuoinon.com

http://dotchuoinon.com/2010/09/29/d%e1%bb%91i-tho%e1%ba%a1i-th%e1%ba%bf-nao/

Nhạy cảm về người khác – 2 ( Hay )

Chào các bạn,




Trong bài trước chúng ta đã nói là muốn hiểu được cảm xúc của người khác, ta phải biết lắng nghe và quan sát body language trong khi đối thoại. Nhưng, đây là vấn đề ta thường gặp:



Hai người nói chuyện với nhau, nhưng không tin nhau lời nói của nhau và cả hai cố “đọc” body language của nhau (vì thường là khó che đậy body language hơn lời nói). Cuộc đối thoại chẳng đi đến đâu cả, vì chỉ là một trò đấu đá.



Ở một mức thông thường hơn, ta thường nghe than vãn: Người ta xử với nhau qua những mặt nạ, sống với nhau bằng giả dối, đóng kịch với nhau thường xuyên” và “triệu người quen chẳng mấy người thân”. Như Harmony viết: “Người Việt hay có lối nói hàm ý, có khi vui, buồn không bao giờ thể hiện ra hết, cho nên đoán được ý là cực khó, nhiều khi khen nhưng hóa ra lại là chê mát mẻ, hoặc khen nhưng chỉ là khen câu cửa miệng chứ chẳng nhằm mục đích gì khác, cũng như nhiều người Việt muốn che đi mặt chưa được của một vấn đề thì lại đánh bóng nó lên ở một mặt khác.”



• Ở mức sơ đẳng, chúng ta cần biết là mỗi văn hóa có một cách ứng xử của văn hóa đó, dù là ứng xử thế nào. Nếu một người (trong nền văn hóa) nói chuyện không thành thật đối với suy ngĩ hay cảm xúc của họ, thì ít ra người nghe (trong cùng nền văn hóa) cũng phải nhận ra điều thiếu thành tâm đó—”anh này đang nói chuyện theo kiểu nói cho có nói chứ chẳng thật tâm gì cả”–dù rằng có thể không biết người nói thật sự muốn gì. Và nếu người nghe có kinh nghiệm một chút về body language, thì mọi giả dối hay thiếu thành tâm thường hiện ra rất rõ.



• Tuy nhiên mức sơ đẳng thường chưa giải quyết được vấn đề. Cùng lắm là ta nhận ra được là người kia thiếu thành thật, trong khi đa số người vẫn cư xử với nhau bằng “mặt nạ”. Vấn đề là, trong một cuộc đối thoại, ta phải đưa được người kia khỏi cung cách mặt nạ đó, thì mới có thể có được một đối thoại có ‎ý nghĩa.



Như vậy ở mức cao hơn mức sơ đẳng, ta phải tạo một bầu không khí tin cẩn trong mỗi cuộc đối thoại, để cuộc đối thoại thành ‎ý nghĩa.



Và ta tạo bầu không khí tin cẩn này bằng cách tạo ra một năng lượng tích cực giữa hai người. Và năng lượng tích cực này được tạo ra bằng cái nhìn tích cực của ta về người đối diện. Cái nhìn tích cực đó có thể có nếu ta tự bảo ta: “Mình muốn cảm thông với chị này. Mình muốn hiểu được các cảm xúc vui buồn, lo lắng, quan tâm, bức xúc… của chị để có thể cảm thông và chia sẻ với chị”



(Chú ý: Câu nói chữ đỏ này hoàn toàn khác với câu nói kiểu công an: “Mình muốn biết cảm xúc và tư tưởng thật của chị này thế nào, phá bức màn giả tạo chị ấy có bên ngoài.” Rất tiếc là rất nhiều người chúng ta có thái độ tư duy rất tiêu cực này.)



Khi chúng ta đã bắt đầu một cuộc đối thoại bằng cách tạo một năng lượng tích cực như thế, đương nhiên là body language của ta sẽ nói lên điều đó cho người kia. Và thường thường là ta sẽ nhận ra ngay có 2 loại phản ứng khác nhau từ phía người đối diện.



1. Loại người thứ nhất vẫn giữ nguyên thái độ nói lăng nhăng thiếu thành thật, hoặc dò hỏi kiểu công an. Họ cứ như vậy có thể vì (i) bản tính của họ như vậy đã quá mạnh, hay (ii) vì lý‎ do nào đó họ rất nghi kỵ bạn.



(Trong văn hóa người Việt, tối thiểu là 90% các quý vị có máu làm chính trị nằm trong loại này. Nếu bạn nói câu gì đó mà qu‎ý vị đó nghĩ là bạn có lập trường chính trị khác họ thì dù bạn có cố tích cực cách nào họ cũng luôn luôn nói chuyện với bạn kiểu dò hỏi công an. Rất chán! )



2. Loại người thứ hai, hoặc bằng ý thức hoặc vô thức, cảm nhận được năng lượng tích cực của bạn, và sẽ bắt đầu nói chuyện thành thật với bạn. Trước hết là body language của người ấy sẽ bắt đầu thân thiện hơn, rồi lời nói bắt đầu ít vô nghĩa và bắt đầu có ý nghĩa hơn, một lúc sau lời nói và body language hòa hợp nhau để nói với bạn những lời thành thật.



Khi người đối thoại trở thành thành thật với bạn như thế bạn sẽ cảm nhận được rất rõ ràng—bạn cảm nhận được một ấm áp, thành thật, tín cẩn và gần gũi nơi người đó. (Cảm giác này rất rõ ràng và khác với cảm giác nói chuyện rất vui và “hợp gu” với một người khác phái mới gặp. Vui và hợp gu vẫn chỉ là chuyện vui chơi chốt lát. Chưa đến mức chiều sâu ta nói ở đây).



Tóm lại, để có thể nhạy cảm với cảm xúc thật của người đối diện, chúng ta phải có cách để mời người đó bỏ trò chơi mặt nạ và tin tưởng ta đến mức có thể thoải mái nói chuyện với ta bằng khuôn mặt thật của họ. Muốn làm thế thì ta phải (1) không chơi trò mặt nạ, và (2) luôn tạo một năng lượng tích cực—thành tâm tìm đồng cảm và chia sẻ với người đối diện—để năng lượng tích cực đó tạo nên sự tin cẩn, nền tảng của truyền thông thành thật, giữa hai người.



Tất cả những điều này có thể tóm lại cho dễ nhớ vào quy luật “tam chi” của chúng ta—khiêm tốn, thành thật, yêu người. Khi bắt đầu đối thoại, hãy cho mình 3 giây để tự nhắc mình: “Tôi sẽ khiêm tốn, thành thật và nhân ái với chị này và sẽ nói chuyện với chị với tinh thần như thế”. (Mình luôn luôn làm vậy trước khi vào một cuộc nói chuyện, interview, cuộc họp hay cuộc điều đình quan trọng). Và giữ tinh thần đó trong suốt buổi. Năng lượng tích cực đó đó sẽ tạo ra những đối thoại thành thật để chúng ta có thể hiểu nhau.



Chúc các bạn một ngày vui.



Mến,



Hoành

http://dotchuoinon.com/2011/05/26/nh%e1%ba%a1y-c%e1%ba%a3m-v%e1%bb%81-ng%c6%b0%e1%bb%9di-khac-2/

Nhạy cảm về người khác – 1 (Hay )

Chào các bạn,




Một trong những kỹ năng quan trọng hàng đầu trong giao tiếp mà rất nhiều người trong chúng ta chẳng thuần thục tí nào là: nhạy cảm về cảm xúc của người khác.



Chúng ta luôn luôn nói đến “khiêm tốn, thành thật, yêu người”. Và trong ứng xử hàng ngày, việc quan trọng đầu tiên cho ứng xử “yêu người” là nhạy cảm vể cảm xúc của người khác—khi người ta vui, buồn, bức xúc, khó chịu, áy náy, lo lắng… là mình nhận ra ngay. Và khi nói chuyện, thì luôn tìm cách nói, tìm lời nói, để làm cho người ta vui hơn, an lạc hơn, bớt lo lắng hơn, bớt bức xúc hơn, bớt bực mình hơn. Đó là yêu người.



Đây là điều rất quan trọng trong ứng xử. Nếu bạn không nhạy cảm về người khác, bạn sẽ làm cho người ta bực mình về bạn cả đời, đi đâu cũng làm cho người ta có cảm tưởng bạn ăn nói lỗ mãng, kiêu căng, hay vô cảm (insensitive).



Muốn xây dựng kỹ năng nhạy cảm về người khác thì bạn chỉ cần thực tập hai điều cùng lúc: (1) lắng nghe bằng tai và (2) đọc thân ngữ bằng mắt (body language).



Có ba cách để tập lắng nghe và đọc body language hàng ngày:



1. Khi ngồi với một nhóm bạn bè nói chuyện với nhau, bạn có thể ngồi lặng yên để lắng nghe và quan sát body language của mọi người.



2. Xem movie, nhất là các phim tình cảm sâu sắc nổi tiếng của thế giới. Các đại tài tử rất giỏi body language. (Tài tử Việt diễn xuất còn rất yếu. Coi thì cũng chẳng học được mấy).



3. Khi nói chuyện với người nào, tai thì lắng nghe, mắt thì để ‎ý đến body language của người đó, để nhạy cảm với cảm xúc của họ (và lựa lời nói cách nói để làm họ vui vẻ hơn, an lạc hơn).



Có người thì nói chuyện ai cũng yêu, thuyết phục ai cũng được; có người mở miệng ra là người kia khó chịu. Không chính xác là một người “giỏi ăn nói”, một người không. Mà là, một người “giỏi lắng nghe và đọc (body language)” và một người không. Khi ta nhạy cảm về người đối diện tự nhiên là ta sẽ biết cách nói cho họ vui hơn.



• Nhạy cảm về người đối diện không có nghĩa là cứ dạ vâng hay hùa theo họ, như là chạy theo mass mentality (tâm lý đám đông), hay cố gắng chạy theo thị hiếu của mỗi người để làm họ vui, trong khi mình chẳng có lập trường gì cả.



Không phải vậy. Bạn phải luôn luôn có lập trường của bạn. Nhưng bạn lắng nghe và đọc body language để bạn hiểu được người kia hơn, và do đó sự ăn nói của bạn có chiến lược hơn: Nên nói cách nào, khi nào dùng từ như thế nào, khi nào thì nên nói, khi nào thì nói cách nào, v.v… Nếu không rành chiến lược thì bạn cũng sẽ nói, nhưng chẳng có chiến lược gì cả, và do đó nhiều khi càng nói người ta càng ghét.



Và ăn nói có chiến lược có nghĩa là ăn nói… có chiến lược. Không có nghĩa lúc nào cũng nói vuốt ve một kiểu. Khi cần dịu dàng thì dịu dàng, khi cần logic thì logic, khi cần tình cảm thì tình cảm, khi cần cứng rắn thì cứng rắn… Đã nói là chiến lược thì mọi sự đều phải được làm tùy theo nhu cầu đòi hỏi của… chiến lược.



• Người luyện tập tư duy tích cực tập trung vào tâm mình—khiêm tốn, thành thật, nhân ái–và không sợ người khác chê bai khích bác mình. Nhưng đối với người khác, thì mình luôn cố gắng để không chê bai khích bác hay xúc phạm họ do cách ăn nói của mình, dù là cố tình hay vô tình.



(Trừ khi mình cố tình khích bác họ vì mình yêu thương họ, muốn cho họ khá hơn. Nhưng khích bác là chiến lược khó dùng, chỉ hạng thầy nên dùng, các bạn còn yếu công lực thì không nên rớ đến, sẽ bị backfire, bắn ngược lại).



Tóm lại, trong việc cư xử với người khác, chúng ta luôn phải nhạy cảm về người đối điện, để có thể biết cách xử dụng ngôn ngữ và cách nói một cách hiệu quả, làm cho người đối diện có thể vui vẻ hơn, và đồng ‎ý với ta nhiều hơn. Thành thật là nói sự thật, nhưng nói sự thật không có nghĩa là nói ngu. Nói sự thật vẫn có thể rất dịu dàng, dễ nghe, dễ nuốt… nếu ta nhạy cảm và biết chiến lược.



Quan tâm về cảm xúc của người khác để ăn nói và đối xử với họ, đó chính là yêu người trong hành động.



Chúc các bạn một ngày nhạy cảm.



Mến,



Hoành



Bài liên hệ: Nhạy cảm về người khác – 2



© copyright 2011

Trần Đình Hoành

Permitted for non-commercial use

www.dotchuoinon.com


http://dotchuoinon.com/2011/05/25/nh%e1%ba%a1y-c%e1%ba%a3m-v%e1%bb%81-ng%c6%b0%e1%bb%9di-khac/

Tôn trọng cảm xúc của nhau _của Trần Đình Hoành

Chào các bạn,




Có lẽ trở ngại lớn nhất trong quan hệ con người—cha mẹ con cái, anh chị em, bạn bè, người yêu, vợ chồng, chính trị–là chúng ta không thật sự hiểu được cảm xúc của nguời kia. Người hút thuốc thì không hiểu được người không hút thuốc khó chịu đến mức nào với khói thuốc, nguời không sợ ma không hiểu được người khác có thể sợ ma đến mức nào, Polpot và bè đảng không hiểu được nhân dân Kampuchia đau khổ thế nào với các hành động của họ…



Trong đời sống thường ngày của chúng ra, không nắm bắt được cảm xúc của nguời kia là lý do số một của những xung đột. Một anh chồng bừa bãi, xả rác trong nhà thường xuyên, có thể không hiểu được bà vợ có tính ngăn nắp bị xúc phạm thế nào về rác nhà. Hoặc một cậu nói đùa với bạn gái một câu, không hiểu được tại sao nàng lại có vẻ rất tức giận với câu nói đùa “vô thưởng vô phạt” của mình. Bố mẹ thường là không nắm bắt được cảm xúc của các con đang tuổi teen vì cảm xúc vào tuổi đó thường quá mạnh để bố mẹ có thể mường tượng được (dù là bố mẹ đã có một thời là teen).



Không hiểu được cảm xúc của nhau là chuyện tự nhiên vì mỗi nguời mỗi khác. Nhưng chuyện ít tự nhiên hơn là: Dù cho nguời kia có phản ứng không vui, hoặc đôi khi nói rõ ràng cho ta biết—“anh làm thế tôi bị xúc phạm”—ta vẫn không nắm bắt được cảm xúc của nguời đó, và ta tiếp tục xúc phạm mãi. Và đó là lý do của hầu hết các xung đột và đổ vỡ.



Vấn đề này có gốc rễ ở “lý luận” của ta: Mỗi khi cảm thấy nguời kia có phản ứng “quá đáng” đối với một hành vi “vô tội”, thậm chí hành vi “rất tốt” của ta, ta luôn có lý lẽ “đúng” để lý giải: “Trời, sao hắn vô lý thế! Đáng ra thì phải cám ơn mình mới phải chứ.” Và lý luận này của ta quá “đúng” cho ta, đến nỗi ta không thấy lời phàn nàn của nguời kia có lý một chút nào, ta không thấy được ta sai một chút nào, và ta chẳng thấy lý do gì để thay đổi cách hành xử của ta, cho đến khi xảy ra xung đột và đổ vỡ lớn.



Lý do cho tình trạng lý luận vô cảm đó là vì ta “suy bụng ta ra bụng người”. Ta lấy cái thước của ta để đo lòng người khác. Điều ta cho là hữu ích, mà nguời kia phàn nàn, tức là người đó không có thiện chí, vô ý thức, phản động, trì trệ, lười biếng…



Nhưng trong vấn đề cảm xúc, mỗi nguời cảm xúc khác nhau. Mỗi nguời là một thế giới riêng, với những cách xúc cảm đặc biệt. Giữa hai người, có một số xúc cảm giống nhau, nhưng cũng có nhiều xúc cảm hoàn toàn khác nhau. Đại đa số vấn đề xung đột sẽ biến mất nếu chúng ta tuân theo một công thức cực kỳ giản dị: “Tôn trọng cảm xúc của người khác”. Tôn trọng cảm xúc của người khác, dù nó quái dị và phi lý đối với ta thế nào.



Nguời yêu mình vì lý do nào đó mà không chịu được màu đỏ, vậy thì tôn trọng anh ta và đừng mặc áo đỏ khi gặp nhau.



Bạn mình vì lý do nào đó mà rất kỵ người Hà Tĩnh, vậy thì đừng nhất quyết cho rằng anh ta sai và tranh biện. Lờ việc đó đi, nhẹ nhàng chuyển sang việc khác.



Vợ chồng, vì sống chung với nhau, cho nên dễ đụng chạm nhau về cảm xúc hơn ai cả. Tôn trọng cảm xúc nhau, và đừng ép nhau phải có cùng cảm xúc. Cô vợ thì thích mua áo quần đẹp, anh chồng thì chỉ muốn mua sách, và anh chồng luôn phàn nàn là vợ phí tiền vô ích. Đó là vô cảm với nhau. Phụ nữ thích sắm áo quần đẹp. Giản dị vậy. Đó là cảm xúc. Đừng lý giải áo quần hay sách cái gì quan trọng hơn, và khởi chiến. Hãy tôn trọng cảm xúc của nhau.



Trong liên hệ con nguời, điều quan trọng nhất là tôn trọng nhau.



Tôn trọng nhau, nói cho cùng, chỉ có một nghĩa duy nhất là tôn trọng cảm xúc của nhau. Cảm xúc của chúng ta chính là con nguời chúng ta. Tôn trọng một người chính là tôn trọng cảm xúc của người ấy.



Ngược lại, không tôn trọng cảm xúc của một người là không tôn trọng nguời ấy.



Không tôn trọng cảm xúc của nguời khác là vô cảm. Tôn trọng cảm xúc của nguời khác là nhạy cảm. Căn bản tốt của liên hệ con người là ở đó—nhạy cảm về cảm xúc của nhau.



Chúc các bạn một ngày nhạy cảm.



Mến,

Hoành



© copyright 2011

Trần Đình Hoành

Permitted for non-commercial use

www.dotchuoinon.com



Tùy Duyên Bất Biến _HT Ân Sư

http://thuongchieu.net/index.php?option=com_content&view=article&id=2248:tuyduyenbatbien&catid=21:-ht-thich-thanh-t&Itemid=340

Thursday, July 28, 2011

TU LÀ GÌ? TẠI SAO TU?


Tu tập là cày bừa và vun bón đất tâm.

Tu học là điều phục tâm.

Trước khi ta tu, tâm ta là mảnh đất hoang vu đầy gai gốc. Nên ta tạo nhiều đau khổ cho chính ta và cho người xung quanh.Bụt đã từng nói:”Này các vị khất sĩ! Không có một sự vật nào khi không được điều phục mà có thể mang lại nhiều đau khổ như tâm ta. Này các vị khất sĩ! Không có vật nào khi ta đã điều phục và chế ngự được có thể mang lại nhiều hạnh phúc như tâm ta”. Vì vậy tu học là điều phục tâm. Làm việc với tâm. Tâm ta cũng như mảnh đất chứa đầy hạt giống. Có những hạt giống gai gốc, tham giận, si mê, ganh tị, kiêu căng... Nhưng cũng có những hạt giống hạnh phúc, tha thứ, thương yêu, giác ngộ , giải thoát... Tu học là phân biệt được. Để chuyển hóa những hạt giống xấu. Tưới tẩm những hạt giống tốt.
Khi ta chưa tu, đất tâm ta rất cứng. Ta không làm gì được với mảnh đất ấy. Trước tiên ta phải cày đất. Lưỡi cày là Chánh Niệm. Cày đất tâm là thực tập Chánh Niệm hằng ngày. Khi nấu cơm, giặt áo, quét nhà, nghe chuông... là những lúc ta cày mảnh đất tâm của chính mình. Ta cày ruộng tâm lên để tất cả gai gốc, rễ cây...trồi lên mặt đất. Ta sẽ nhặt, quăng vào một đống và đốt chúng đi. Tu hành cũng như làm ruộng vậy.

Thời Bụt còn tại thế. Có một hôm, Bụt và các vị khất sĩ đi khất thực. Hôm ấy là vào đầu mùa xuân. Các nhà nông đưa trâu ra cày ruộng. Có một vị trưởng giả Bà La Môn đem 500 lưỡi cày, 500 con trâu và rất nhiều lực điền ra cày ruộng. Khi giáo đoàn của Bụt đi ngang qua khất thực. Ông Bà La Môn ấy đã chỉ trích:

- Chúng tôi làm ruộng, có đất, có hạt giống, có cày , có bò. Chúng tôi cày ruộng, bừa ruộng, gieo hạt, cấy mạ, vun bón. Rồi mới ăn. Các ông không có đất, không cày , không bừa, không tưới. Không làm gì hết mà cũng đòi ăn. Là nghĩa làm sao?

Bụt mỉm cười nói:

- Thưa ông, có chứ! Chúng tôi có đất, có hạt giống, có cày bừa, có trâu bò. Chúng tôi gieo hạt, chăm sóc. Và chúng tôi ăn.

Ông Bà La Môn nói:

- Thầy nói vậy làm sao chúng tôi tin được. Đất của Thầy đâu? Bò, cày của Thầy đâu mà Thầy dám nói mình là người cày ruộng?

Bụt liền đọc một bài kệ như sau:

Đúc Tin là hạt giống.

Công Phu mưa phải thời.

Chánh Niệm là lưỡi cày.

Tinh Tấn là sức kéo.

Cán cày là Trí Tuệ.

Dây cột là Ý Căn.

Rễ ách nạn nhổ lên.

Quả Niết Bàn thu hoạch.



Như vậy tâm ta là đất ruộng. Những hạt giống ta gieo trên đất ấy là Đức Tin. Đức Tin nơi pháp môn của Bụt. Nơi giáo pháp và nơi Tăng Đoàn. Hạt giống và đất tâm là vốn liếng của người làm ruộng tâm. Tu hành cũng giống làm ruộng. Khi tu tập, ta biết tâm mình là ruộng đất. Chánh Pháp là những hạt giống tốt. Chánh Niệm là lưỡi cày để khai phá đất. Chúng ta phải vun bón, chăm sóc thì mới có mà thu hoạch. Thu hoạch trí tuệ là sự hiểu biết. Thu hoạch tình thương là lòng Từ Bi. Có Trí Tuệ, có Từ Bi là có vững chãi, thảnh thơi. Đó là hai đặc tính của Niết Bàn.





Tâm ta được chia làm 2 phần. Phần dưới là Tàng Thức. Phần trên là Ý Thức. Tàng Thức là đất và hạt giống. Những hạt giống ở dưới Tàng Thức có thể cho ra hoa trái ở trên Ý Thức. Người làm ruộng phải làm với đất. Người tu phải làm việc với Tàng Thức. Nếu chỉ làm việc với Ý Thức, ta không thành công. Vì Ý Thức là người làm ruộng. Còn Tàng Thức mới là đất. Tất cả hạt giống đếu nằm trong Tàng Thức. Chính Tàng Thức mới cống hiến được hoa trái của hiểu biết, thương yêu và giác ngộ. Vì thế, nếu chúng ta không tu tập, thì đất tâm sẽ trồi lên những quả khổ đau, giận hờn, vô minh, kỳ thị...



Hạt giống ở Tàng Thức có đủ loại. Tốt và xấu. Hạt giống của Bụt và hạt giống của ma. Hạt giống hạnh phúc có mặt, mà hạt giống khổ đau cũng có mặt. Tâm ta không được điều phục. Không được uốn nắn. Không được bảo hộ. Thì sẽ gây đau khổ,không thể nào tạo hạnh phúc cho mình và cho người. Tâm ta có khi cứng ngắc. Cố chấp đủ thứ. Dù có người muốn giúp. Có nói cho ta một điều gì đó. Nhưng ta vẫn trơ trơ. Không hề lay chuyển. Khi ta giận, ta buồn. Thất bại ê chề. Ta muốn trốn tránh xã hội loài người. Thì ta phải biết tâm ta đang là mảnh đất hoang. Bụt dạy rằng:”Tâm không tu tập sẽ đem lại rất nhiều đau khổ cho mình và cho người. Tâm được tu tập sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cho người”. Vì vậy, công việc của người tu hành là mỗi ngày cày cấy mảnh đất tâm của mình. Khi ngồi thiền, thiền hành, nghe chuông, thở, nấu cơm , ăn cơm... là ta đang cày xới mảnh đất tâm. Cái tâm của ta phải được tu. Đừng để đất hoang.







Ý Thức là phòng khách. Tàng Thức là kho chứa. Khi kho chứa đầy khổ đau, thì khổ đau sẽ đẩy cửa vào ngồi chễm chệ trong phòng khách của ta. Nếu không tu tập, ta không có khả năng đuổi chúng đi. Không có khả năng chuyển hóa chúng.

Ý Thức là người làm vườn. Người làm vườn phải biết điều phục khu vườn. Phải biết cày bừa, nhổ cỏ dại, chọn hạt giống, tưới tẩm, vun bón. Thì mới có hoa trái của hạnh phúc, thương yêu và giác ngộ.


Trích lược tác phẩm :” HẠNH PHÚC – Mộng và thực”

Tác giả: Thiền Sư THÍCH NHẤT HẠNH

Nơi Thầy Một Tấm Gương Trong





Chiều nay cũng như bao chiều, tôi lặng lẽ ngồi dưới tàng cây, mắt dõi nhìn bầu trời xanh. Từng đám mây trôi êm đềm, từng đám mây trôi lang thang bất định. Thực tại tôi đang ngồi đây và bên kia nửa vòng trái đất vị Ân sư khả kính đã khép cánh cửa tùng, quay về an trú trong thế giới vô biên, để từ đó tung ra vô vàn hào quang tuệ giác. Hóa ra trong cõi vô thường này vẫn còn đó đóa hoa bất tử.




Và nơi đây, tôi như chú nai ngơ ngác đang tìm nơi trú ẩn. Như thuyền con chống chọi giữa phong ba bão táp để trở về bến đỗ bình an. Có những lúc thuyền sắp đắm giữa biển khơi thì hình ảnh của Thầy một đời hy sinh vì đạo pháp, chúng sanh lại hiện diện giúp tôi giữ vững tinh thần phấn đấu. Có khi tôi âm thầm gọi hai tiếng “Thầy ơi!” Và cảm nghe mình được sự hộ niệm.



Dù ở thật xa nhưng cũng thật gần vì lời Thầy vẫn văng vẳng bên tai “Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm”. Có lẽ trong đời Thầy cũng đã trải qua bao thăng trầm cuộc sống, có lúc phải nuốt từng giọt đắng, bền gan cùng tuế nguyệt để hoàn thành tâm nguyện: Làm sống dậy Thiền Tông Việt Nam. Để ngày nay trông vào tấm gương Thầy lại một lần nữa tôi chấp tay xin nguyện hứa ”Nếu một chúng sanh chưa thành Phật, cõi Niết Bàn con không thể tự an”. Xa Thầy, gặp chướng duyên tôi vẫn một lòng nối bước người xưa “Lấy người nghịch làm vườn đẹp, lấy kẻ giao hữu tệ bạc làm sự giúp ích”. Hơn hai mươi năm theo Thầy học đạo, qua bao lần thử thách gay go. Nếu không có cây kiếm tùy thân thì làm sao đứng vững được. Các pháp là pháp bất định, đến và đi đúng như nhân duyên nếu mình không nghiêng ngả, nổi trôi thì tùy duyên tiêu cựu nghiệp vậy.



Khuôn đúc lối mòn của người xưa có sẵn, nhưng bước vào lại có cửa riêng. Tuy gương sáng Thầy trao lại cho đàn con, nhưng chúng tôi còn chân thấp chân cao, khập khểnh trên con đường giác ngộ giải thoát . Mỗi bước chúng tôi đi thành công hay thất bại Thầy đều dõi mắt trông chừng. Mới biết tình Thầy dù núi cao vòi vọi hay đại dương mênh mông cũng không thể sánh. Tôi vô phúc song thân mất sớm, Thầy vừa là bậc đạo sư dẫn đường, vừa là cha mẹ nuôi dạy, cưu mang. Những gì tôi có được ngày nay phần lớn nhờ ơn Thầy tác thành. Do vậy, cho đến giờ tôi vẫn canh cánh bên lòng nỗi niềm: chưa làm được gì để xứng đáng.



Đúng như lời Thầy từng dạy: “Một ngày sống là một ngày có ích”. Ở tuổi gần tám mươi Người vẫn còn vất vả, lên rừng xuống biển chỉ cho người thoát khỏi bến mê. Khi nhập thất Người đưa thuyền chúng tôi ra khơi, muốn sinh tồn tự mỗi người phải tìm cách lèo lái. Đây là lối “ăn trộm dạy con”, đưa người học vào chỗ “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Bắt tay vào việc tức khắc ta sẽ biết phải làm gì, ứng xử ra sao. Nếu được dạy trước mọi điều thì kết quả thu thập được là của Thầy không phải của chúng tôi. Người muốn đệ tử tự thành lập quốc độ. Đây là đường đi của người học Thiền. Chúng tôi thầm tri ân Thầy đã cho người học một nét riêng, tự bước bằng đôi chân của mình.



Trông gương Thầy, chúng tôi vẫn luôn tâm nguyện làm những việc hữu ích cho đời, phụng sự chúng sanh để cúng dường chư Phật. Khi thấy cái gì có lợi cho người ta cứ làm, không đợi gặp điều to tát mới làm. Ly nước nhỏ khi người khát vẫn quý hơn ao nước lúc không cần. Trong khi cộng tác với người khác nên chịu sự thiệt thòi, đừng tranh giành hơn thua. Phải bỏ khung trời riêng để bước vào thế giới chung, quên tự ngã mới thật sự vì người, còn một chút tư riêng thì cách đạo quá xa.



Có những lúc tôi nản lòng muốn lui về ẩn tu, một thảo am bên dòng suối nhỏ sống đời hạc nội mây ngàn, Người đã khuyên: “Nếu trong nhà có mười miệng ăn mà chỉ có một người làm ra tiền thì người này nên cố gắng làm để nuôi gia đình hay bỏ trốn? Lo tu cho mình là tốt nhưng không nghĩ đến người khác là ích kỷ. Đôi khi những người chung quanh không hiểu con, không giúp đỡ trợ duyên, con không cần giải thích, chỉ vững tâm tiếp tục con đường đã chọn. Hãy nhớ thất bại không phải xấu mà là bàn đạp cho con đứng dậy. Thành công chưa hẳn là điều hay, đừng tự mãn với thành quả mà phải tiếp tục đi về phía trước”. Chính lý tưởng quên mình phụng sự là thành trì vững chắc giúp ta chống lại những tư tưởng ích kỷ hẹp hòi đang len lỏi gây rối. Hãy rải tình thương đến những người không tốt với mình, xem họ như người bạn chưa thông cảm. Được như vậy, tuy chúng ta chưa phải thánh nhân nhưng là người biết tự chủ, biết mình là ai...



Con người sanh ra đã mang sẵn nghiệp dĩ, tập khí, có khi là những chú cừu non ngoan ngoãn vâng lời. Cũng có lúc hung hăng như trâu hoang không vàm, tha hồ phá phách, Thầy đã kiên nhẫn răn nhắc, cho mọi người có cơ hội nhìn lại mình, vươn lên từ những lầm lỗi. Đã có những người lớn mạnh dưới bóng đại thọ của Thầy, nhưng cũng có kẻ không đủ sức đảm đương nên trở bước thối lùi. Có lần Thầy gõ cây gậy vào đống hồ đang trộn bảo: “Hồ còn mới muốn làm tròn méo gì cũng được, hồ đã chết rồi đành chịu!”. Tập khí như hồ đã chết cứng không thể theo khuôn khổ uốn nắn. Tuy vậy, Thầy vẫn bền lòng vì một đại sự nhân duyên: khai thị Phật tâm. Mở cánh cửa giác ngộ, chỉ con đường vượt thoát. Thầy đã ban rải mà không hề thu nhận lại. Và chúng tôi được trưởng thành trong pháp môn, tập bỏ phàm ngã để hóa thân trong đại ngã. Hàng đệ tử chúng tôi xin cúi đầu cảm nhận từ ân.



Đóa hoa chân lý đang nở ngay bên bờ thẳm, chỉ có người xem thường mạng sống, bất chấp khó khăn mới dám đưa tay hái. Kẻ còn nặng ái ngã khó thể đảm đương. Con đường phụng sự phải qua nhiều đắng cay chua chát, nhưng gian nan không làm tiêu hao công lực mà càng mài giũa cho viên ngọc thêm tròn trịa sáng trong. Thầy đã trọn một đời vì người, chúng tôi tuy bé nhỏ, kém cỏi nhưng đâu không bước theo chân Người. Khi mệt mỏi, chán chường cần phải nung nấu ý chí hạnh nguyện, trông gương người trước để không cho phép mình thối lùi.



Những lúc ngồi đối diện với nỗi riêng, ta cảm nhận cái đau buốt lòng đó chỉ là ảo giác, từ tâm biến hiện, niềm đau tan rã, lòng lại sáng trong. Cuộc đời không bằng phẳng bình an, chúng ta phải vượt trên cuộc đời – An tịnh trong sóng gió khổ đau. Yếu tố nào giúp ta đứng vững? Chỉ cần cây kiếm tùy thân, giương đông kích tây, tha hồ tung hoành tự tại. Chúng tôi, những người chiến sĩ tay cung tay kiếm âm thầm chiến đấu với ma quân, mặc áo giáp nhẫn nại để vượt thành trì ma chướng. Nghiệm nỗi khó khăn vất vả trong cuộc chiến còn mất này, tôi càng kính ngưỡng công hạnh của Ân sư. Vươn lên từ bùn nhơ ngũ dục, nở trong lò lửa vô thường sen vẫn tươi nhuần tỏa ngát hương thơm. Cho nên dù trong hoàn cảnh khó khăn nào ta vẫn luôn là ta không bị trần lao quấy nhiễu, ngả nghiêng. Đó chính là đi theo bước chân của bậc tiền nhân – Đem chân lý đi vào cuộc sống.

http://www.thienvienquangchieu.org/DacSan/doi%20Thay.htm

VÔ THƯỜNG

Sự chết và lẽ vô thường:




Bà Kisagotami bế đứa con trai, khóc sướt mướt, chạy hoảng hốt đến tất cả các vị lương y vùng Savatthi xin cứu mạng đứa con trai duy nhất. Mới ngày hôm qua bé còn chạy chơi, vui đùa; Không, không, ngàn lần không thể nào bé đã thở hơi cuối cùng trên tay bà! Không ai trong làng có thể thuyết phục được là em bé đã chết! Sau cùng một vị trưởng lão đề nghị: “Nầy bà Kisagotami, tôi biết có một nguòi có thể cứu giúp bà, người ấy chính là Đức Phật Gotama, đấng trọn lành, Ngài đang ngự tại Tịnh Xá Kỳ Viên của ngài Anathapindika (Cấp Cô Độc)”. Kisagotami vội vàng bế con chạy một mạch đến gặp Đức Phật. Bà đặt đứa con dưới chân Đức Phật, đảnh lễ, và xin cứu mạng đứa con. Đấng Từ Bi nhìn bà bao dung và dịu hiền, Ngài nhẹ nhàng nói: “Nầy bà Kisagotami, có một món thuốc thần diệu chắc chắn chữa được mọi vết thương: bà hãy tìm mang về đây một nhúm hạt cải, xin được từ bất kỳ một căn nhà nào..”. Kisagotami mừng vô hạn, niềm hy vọng dâng tràn, bà lập tức bế con và chuẩn bị đi tìm hạt cải. Đức Phật nói tiếp: “Hãy ghi nhận điều nầy, hỡi bà Kisagotami, phải xin hạt cải từ một nhà nào chưa từng bao giờ có người chết!”. Vì quá nỗi vui mừng và hy vọng bà Kisagotami không thấu hiểu rõ ý nghĩa lời nói của Đức Phật.. Tất cả gia đình trong thành Savatthi đều sẵn lòng cho bà mẹ đáng thương 1 nhúm hạt cải, nhưng khi hỏi ra, Kisagotami không thể nào tìm được 1 căn nhà chưa từng có thần mara (thần chết) đã từng đến viếng..



Trời đã về chiều, ráng chiều ửng đỏ nơi chân trời, một ngày sắp qua. Mệt mỏi, tả tơi vì thất vọng và đau khổ, bà Kisagotami bất chợt hiểu ra “lẽ vô thường” của sự chết, sự sống và hiện tượng phổ thông của sự chết vẫn diễn ra chung quanh, mà từ lâu, bà không hề quan tâm! Tất cả những gì yêu thương nhất, quý trọng nhất, rồi cũng lặng lẽ chia tay vào suy tàn và hủy diệt! Vậy thì cái gì còn lại? Cái gì có thể giúp ta thoát được những đợt sóng liên tục không ngừng của sống chết, còn mất, chuỗi dài đau khổ? Bà Kisagotami miên man suy ngẩm, từng bước đi, bà bế con đến một góc rừng, cạnh bên một nghĩa trang và một con suối. Bà đặt con trên một tảng đá to, cạnh bờ suối, ngồi xuống bên cạnh, nhìn thật sâu vào khuôn mặt hồn nhiên của con trai.. Và bà đã nghe được tiếng im lặng của nội tâm, tiếng không thinh âm..



Sự sống:



Mẹ thân yêu của con, mẹ đừng sống trong ngày hôm qua, ngày hôm qua đã chết, mẹ hãy nhìn con, ngay bây giờ: con không hề chết, không có sự chết mẹ ạ, con không phải là cái thể xác vô thường, mà từ lâu mẹ vẫn tưởng.. Thật lạ lùng, hình như bà Kisagotami nghe đứa con nói nhỏ nhẹ với bà, hình như bé đang cười yên lặng thánh thiện, khuôn mặt sáng chói và hồn nhiên như một thiên thần. Mẹ hãy nhìn dòng suối bên cạnh, từng đợt sóng đổ xô nhau đi, ngàn năm vẫn vậy, và hãy nhìn lên bầu trời, mây trắng thay đổi hình dạng liên tục và vẫn cứ bay mãi, không bao giờ ngưng nghỉ. Mẹ đã hiểu sự biến đổi, sự vô thường, sự liên tục và tuần hoàn trong đời sống và nơi thiên nhiên.. Xa hơn nữa, có một điều bất biến, đó là Phật tính, là Chân ngã, là sự sống, cái không bao giờ mất, nguồn an lạc bất tận, cái không bao giờ hư hoại, khi tĩnh lặng mẹ sẽ hòa điệu với nó.. Mẹ hãy đứng lên, đừng quan tâm đến cái áo khoác bên ngoài con bỏ lại trong kiếp nầy (thể xác), con là thành phần của sự sống toàn vẹn và vĩnh cửu. Mẹ đã biết con không bao giờ chết, mẹ hãy trở về với Đức Phật, Đấng Từ Bi, và hãy chia sớt kinh nghiệm của mẹ với mọi người. Tạm biệt.



Một nguồn năng lực mạnh mẽ tuôn trào nơi thân tâm, bà Kisagotami bừng lên một sức sống mới, vạn vật như đột nhiên bừng sáng chói, từng nhánh cây, ngọn cỏ vươn lên sức sống mãnh liệt, yên lặng nhưng mạnh mẽ.. Bà trầm mình trong niềm an lạc, hòa hợp tuyệt vời với sự sống bất diệt. Bà đã thoát ra ngoài mọi ràng buộc của vô thường sống chết, kinh nghiệm trạng thái tự do. Bà đứng lên, từng bước nhẹ nhàng trở lại tịnh xá gặp lại Đức Phật. Ngài chỉ mỉm cười, đầy minh triết và bác ái, nhìn bà mà không nói. Bà quỳ xuống đảnh lễ, Kisagotami trở thành đệ tử của Đức Phật kể từ ngày hôm ấy..



Mây Lang Thang


http://www.thienvienquangchieu.org/DacSan/vo%20thuong.htm




Mỗi Đoạn Nhân Duyên

Trong cuộc sống đầy nhiễu nhương bất trắc, chúng ta đã bao lần mơ sang sông. Mơ thế giới cực lạc của Phật, Bồ Tát, Thánh hiền. Những lúc chân chùn gối mỏi, mơ được nằm duỗi trong cõi thiên thai, rũ bỏ mọi trần lụy vương mang. Hoặc khi não phiền nhân thế ta muốn được gối đầu, ấp ủ trong vòng tay mẹ, nghe lại khúc hát ầu ơ ngày nào mẹ đã hát ru con. Có khi ta lại mơ được sống trong cảnh giàu sang vương giả. Ai ai đều có một cõi để về. Nhưng có một cõi không có nơi chốn, không có sang hèn, phiền lụy, không có chỗ đi về, trong đó Phật, Bồ Tát, Thánh hiền như điện chớp, Như vậy mỗi người đếu có một đoạn nhân duyên thuận hay nghịch, tốt hay xấu.. Từ đó sẽ trổ sanh hoa trái, kết thành hiện quả.




Nếu trước anh chàng tiều phu Huệ Năng khi đến chỗ Ngũ Tổ không khẳng định: ‘Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với Hòa Thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác’ thì làm gì Ngũ Tổ biết được hòn ngọc ma ni lẫn trong núi đá. Nhưng phải đợi đến khi Tổ Huệ Năng làm bài kệ :



Bồ đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai. [Bồ đề vốn không cây

Gương sáng cũng chẳng đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính bụi bặm].

Ngũ Tổ mới biết chỗ dùng hằng ngày của Huệ Năng.



Ngũ Tổ đã chọn không lầm người, vàng quặng đã phân, nên đêm tối canh ba Ngài đã nói kinh Kim Cang, Huệ Năng đốn ngộ, Ngũ Tổ truyền y bát, hôm qua là tiều phu, hôm nay thành Lục Tổ. Nếu không có giây phút ‘Đâu ngờ .....’ thì đâu có ngày ông lái đò Ngũ Tổ đưa khách sang sông. Và khách đã giành lấy gay chèo : ‘Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì tự độ’



Năm tháng dần trôi đời người chóng vánh, nếu chẳng lo cầu tự độ chỉ nương theo oai thần Phật, Bồ Tát bên ngoài thì dầu phước đức như hà sa, e rằng cũng không thể cứu được. Mảnh hình hài này sớm muộn cũng trở về cát bụi, còn chăng chỉ một nấm mồ rêu phong phủ kín, bốn mùa sương nắng. Muốn được độ thoát phải tự tìm ra ‘linh cốt tiên sư’, bất chợt một sáng mùa đông hé nở đóa mai vàng, ấy gọi là ‘Nếu chẳng một phen sương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương’.



Tri ân bậc Thầy mở sáng mắt tuệ, dầu sức cùng lực tận vẫn mong có ngày đền đáp. Hoa Đình Thuyền Tử ngày ngày đưa khách sang sông, tùy duyên độ nhật. Cho đến khi gặp Giáp Sơn Thiện Hội Thầy trò tha hồ khua chèo lướt sóng, một lần gặp nhau, trở thành vĩnh cữu. Đã xong một đời, có kẻ kế thừa Thuyền tử buông chèo, úp thuyền, thỏng tay đi vào cõi bất diệt. Một đoạn tương phùng kỳ ngộ này đâu không đủ đền ân ư?



Một tay buông lơi, một tay nắm chặt đầu dây lần lên bờ giác. Khách trần muốn xuất ly sanh tử, nếu còn chút vương vấn bụi trần e khó lòng thấu thoát. Xưa Hòa Thượng Tôn sư đã một phen từ giả phố thị phù hoa, khăn gói lên núi Tương Kỳ, chặt tre phá rừng dựng lên Pháp Lạc Thất, ngày ngày vui đời hạc nội mây ngàn. Bóng chiều tỏa mát non xanh, một mình một bóng say trong pháp thực. Để từ đó bừng nở đoá hoa chân thường, hạt mầm tung rải khắp nơi nơi. Và mỗi mảnh đất tâm của những chúng sanh hữu duyên đã được gieo mầm từ đấy.



Nhờ chút nhân lành tôi được về Thiền Viện Chơn Không xin Thầy xuất gia, bắt đầu đời tăng lữ, một bát cơm ngàn nhà. Dẫu được ngồi trong thiền đường nghiêm tịnh nhưng đôi lúc vẫn chưa thoát hẳn bụi não phiền. Những năm tháng thăng trầm mái chèo của Người vẫn không ngừng lướt sóng. Xưa Ngũ Tổ chỉ tiễn Lục Tổ qua sông một lần rồi thôi, nay Người dù tuổi hạc đã cao, ở bất cứ nơi nào vẫn lèo lái thuyền chúng tôi ra khơi và luôn có mặt trong những cơn sóng dữ, chúng tôi luôn cảm nhận sự hộ niệm trợ giúp của Người. Ôi! cái duyên Thầy trò thật sâu lắng.



Ngọn lửa vô thường đang thiêu đốt con người, vạn vật. Mới hôm qua còn chị chị, em em, sáng nay đã trở thành thiên cổ. Đền đài, lầu chợ chỉ một cơn sóng dữ đã nuốt trôi. Vật đổi sao dời, tang điền thương hải! Ai dám nói mình có sức mạnh chống lại vô thường? Nếu không vậy ắt cam cúi đầu chịu khổ ư? Nhà Sư Nguyễn Hiểu đã từng nói : ‘Tận dụng hết mọi nổ lực của con người cũng không chận đứng được sự héo úa của một cành hoa, vậy thì trong khi đóa hoa đang dần dần héo úa, ta hãy ung dung ngắm nhìn và thưởng thức giây phút cuối cùng của cành hoa đó đi.’



Đời vô thường, thân người không bền chắc, nhưng hãy tận dụng nó để đem đến niềm an vui, hạnh phúc cho mọi người. Cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời ta vẫn nguyện làm chiếc bè cho kẻ chết đuối, thiên thần cho trẻ mồ côi, khuyết tật, bạn tốt cho kẻ lữ hành mỏi mệt, để hoàn thành sứ mạng tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự. Các pháp sanh khởi hay tận diệt đều do nhân duyên ta không thể kháng cự mà chỉ tùy duyên tiêu cựu nghiệp.



Những trận thiên tai, lũ lụt, chiến tranh gây mất mát đau thương cho hàng trăm nghìn gia đình. Đó cũng là những đoạn bi thương của nhân loại. Hằng bao trái tim hướng về đó cầu nguyện. Không ai muốn chiến tranh, chiến tranh vẫn xảy ra. Không ai muốn thiên tai, nó vẫn đến. Có những điều ta không muốn nó vẫn ngang ngược xấn tới, những điều ta muốn nó lại rũ áo ra đi.



Tất cả đều do nhân duyên, vì cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia cũng không. Hiểu được lý này chúng ta mới biết lý do tại sao có những điều đáng lẽ không nên xảy ra lại xảy ra. Khi một hiện tượng bất trắc xảy ra ta thường đổ thừa trách móc hoặc phê phán thị phi, khi hiểu rõ lý nhân duyên ta sẽ không còn thắc mắc, vì nó phải như vậy để đưa đến kết quả như vầy, không thể khác hơn. Mọi thứ như đã được sắp đặt trùng hợp và ăn khớp. Đó là việc của nhân duyên.



Nói thế không có nghĩa mình đầu hàng với vận mạng như một số nhà nho thường quan niệm mà chính là phải tận hết sức mình để xoay chuyển một cuộc cờ nhưng thành công hay không vẫn còn là vấn đề tùy duyên.



Mỗi người chúng ta đều đang vật lộn với ván cờ mà thắng hay bại chưa ai có thể nắm chắc. Nếu ta đưa ra nước cờ đúng thì mọi thứ sẽ được xoay chuyển tùy thuộc, nếu sai thì ảnh hưởng không lường. Trong đời chúng ta đã chơi nhiều ván cờ, kết quả vinh nhục, sang hèn, khen chê ... đều có đủ. Quan trọng không phải chúng ta khóc cười theo từng làn sóng này mà chính là học được những bài học từ đó.



Khi Edison chứng kiến cảnh phòng thí nghiệm, cơ xưởng của ông bị lửa thiêu đốt, ông bình thản và lạc quan đến không ngờ. Ông bảo con mình gọi mẹ đến xem, ông nghĩ rằng ngọn lửa thiêu rụi bao công sức của ông, đồng thời cũng đốt cháy, xóa sạch những sai lầm trong nghiên cứu của ông. Sao có thể lạc quan như vậy? Vì với ông, ông không xem trọng vật chất, chỉ nghĩ đến sự cống hiến cho nhân loại. Đã gọi là cống hiến thì cái đầu ông vẫn còn đây, ông sẽ tiếp tục phát minh cho đến ngày cuối cùng để phụng sự cho nhân loại.



Ngày chúng tôi xây cất chánh điện Quang Chiếu. Khi dựng giàn kèo, chưa kịp đóng chắc, một cơn gió lớn thổi xập. Khi nghe tin giàn kèo xập, điều chúng tôi nghĩ đến đầu tiên là có ai bị kẹt trong đó không? Khi biết tất cả thợ đều ở bên ngoài, chỉ có một người bị thương nhẹ, chúng tôi nhận thấy mình đã được chư Phật che chở.



Nếu nhìn trên mặt bi quan ta sẽ ngồi đó tiếc rẻ, tìm kiếm lỗi phải, như vậy chỉ chuốc lấy khổ đau. Xưa có bà lão có hai người con, một người bán giày, một người bán dù, Ngày nắng bà khóc vì đứa con bán dù ế ẩm, ngày mưa bà cũng khóc vì đứa con bán giày không được. Chuyện đến tai vị Thiền Sư, ngài gọi bà lão đến bảo : ‘Kể từ nay bà nên đổi quan niệm lại. Trời nắng bà mừng vì đứa con bán giày đắc, trời mưa bà mừng đứa con bán dù khấm khá’ Từ đó về sau dù mưa hay nắng bà lão cũng cười và mừng cho các con mình.



Chuyển đổi một cái nhìn là chuyển cả cục diện, cả cuộc đời chớ không phải thường. Khi mọi điều bất trắc xảy đến, chúng ta hãy nhìn trên khía cạnh lạc quan, mình sẽ cảm thấy được cứu độ.



Như vậy mỗi đoạn nhân duyên có một ý nghĩa khác nhau. Trong sự thành công hay thất bại đều có những điều khuyên răn, những bài học rất hay. Có khi trong thất bại chua cay chúng ta lại học được nhiều kinh nghiệm sâu sắc làm thềm thang cho bước thành công mai sau. Tất cả đều do nhân duyên. Hãy cứ gieo những hạt giống tốt, bảo dưỡng bằng những duyên tốt, chắc chắn ta sẽ gặt hái được hoa tươi trái ngọt. Ngược lại nếu gieo gió ắt gặp bão, kết quả sẽ tùy thuộc nơi nhân, sớm hoặc muộn mà thôi.



Hạnh Diệu



http://www.thienvienquangchieu.org/DacSan/

Wednesday, July 27, 2011

Luân hồi

Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
cuối đời nhà minh, có Đại sư Tử Bách, là một trong bốn vị đại sư lỗi lạc của cuối nhà Minh, đó là : Đại sư Liên Trì, Hám Sơn và Ngẫu Ích. Một hôm, có vị tăng đến hỏi đạo. Sau khi đảnh lễ, vị ấy thỉnh Đại Sư Tử Bách khai thị.
Đại sư Tử Bách hỏi:
- Hằng ngày, ông tu pháp môn gì?
Vị tăng đáp:
- Đệ tử thuộc hạng độn căn, không thông thạo các pháp môn, chỉ niệm A Di Đà Phật mà thôi.
Đại sư hỏi:
- Ông là người tu niệm Phật, vậy lúc nằm mộng ông có niệm Phật không?
Vị tăng đáp:
- Lúc tỉnh con niệm Phật dược, còn lúc mộng thì con không nhớ đến Phật.
Đại sư đáp:
- Niệm Phật như vậy làm sao có tác dụng! Trong mộng không nhớ niệm Phật thì việc ông cầu sinh Tịnh độ cũng giống như ngàn cân treo sợi tóc, đèn treo trước gió mà thôi!
Tại sao Đại sư Tử Bách lại nói như vậy? Tại vì lúc mộng cũng như chết. Nói như vậy không được thuận tai cho lắm, nhưng sự thật là vậy. Lúc nằm mộng là chết nhỏ (chết trong một thời gian), cứ tối ngủ không làm chủ được mộng là chết nhỏ, sáng mai thức dậy sinh hoạt bình thường, quanh năm suốt tháng cứ như vậy, không có chính niệm, niệm Phật, nếu một mai vô thuờng đến (chết lớn) làm sao mà niệm Phật? Hay nói cách khác: lúc nằm mộng (chết nhỏ) còn không niệm Phật được, vậy lúc vô thường (chết lớn) lại càng không niệm được. Các bạn hãy đem lời dạy này khảo sát lại bản thân mình, xem thử mình công phu niệm Phật tới đâu, có nắm chắc được vãng sinh hay không, liền có thể biết được mà nỗ lực niệm Phật.
Nằm mộng rất nguy hiểm, bạn không nên xem thường nó. Bạn phải đặc biệt chú ý. Khi nằm mộng là lúc thức thứ sáu (ý thức) không làm chủ được “linh giác” của mình, nó luôn chạy theo cảnh mộng thì thật là nguy hiểm!
Chuyện kể rằng: núi Phổ Đà ở Nam Hải, vào đời nhà Thanh có hòa thượng Liễu Tình. Nhân duyên xuất gia của thầy rất thú vị, chính là vì nằm mộng sau đó mới xuất gia. Thầy nằm mộng như thế nào? Lúc còn tại gia, thầy là một thanh niên tin Phật, ngày nào cũng tụng một quyển kinh Kim Cang, dù bận rộn như thế nào, khuya như thế nào thầy cũng nhất định tụng cho xong rồi mới đi ngủ. Thầy tu rất tinh tấn, trong ngày có thể cơm không ăn cũng được, nhưng không thể không tụng kinh.
Một đêm nọ, lúc ngủ thầy nằm mơ thấy nhà mình có một cỗ xe (lúc bấy giờ là xe ngựa), trên xe có sáu cô gái, cô nào cũng rất là dễ thương, sắc đẹp của các cô làm cho “chim sa cá lặn”, như tiên nữ giáng trần; chính là “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Các cô tiến đến gần hỏi: “Chàng ơi! Đến đây! Chàng ơi đến đây! Trên xe còn rất rộng, chúng thiếp có để cho chàng một chỗ này!”. Hòa thượng Liễu Tình lúc ấy là một thanh niên, cũng giống bao nhiêu người thanh niên khác, khó mà thắng nổi với những nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, cộng thêm với những lời mời ngọt như đường và những nụ cười “chết người”… cậu ta cảm thấy thú vị liền lên ngồi. Xe đi được một lúc thì dừng lại, sáu cô gái bước xuống, cậu cũng bước xuống. Cậu thấy phía trước có một cái cửa, nhưng cửa rất nhỏ. Sau khi sáu cô gái vào trong, cậu cũng có ý định vào theo. Nhưng rất lạ, sáu cô gái không đi mà bò vào, cậu cùng làm y như họ. Sau khi họ bò vào xong, đến lượt cậu, cậu thấy một vị thần Kim Cang, giống như Bồ tát Vi Đà tay cầm chày Kim Cang, vừa thấy cậu liền cản lại: “Ông không được vào đây ra mau, ra mau!”. Nhưng cậu cứ một mực đi vào, thần Kim Cang hét: “Đã nói không được vào, mà ông cứ cứng đầu muốn vào, nguời tụng kinh Kim Cang, không được phép vào nơi này, tôi đã bảo ông đi ra mà ông không chịu đi à!”, liền lấy chày Kim Cang nện xuống đầu cậu, khiến cho đầu cậu vô cùng đau nhức, ngay lập tức liền ngất xỉu, khi tỉnh dậy thấy mình nằm trên giường. Cậu nói: “À, thì ra là nằm mơ!”. Nhưng quái lạ, cậu cảm thấy ở đâu có mùi rất hôi như là mùi phân heo, mùi này từ trước đến nay trong nhà cậu làm gì có, mà cũng chưa từng nghe mùi này bao giờ. Chao ôi! Cậu cũng vô cùng mệt mỏi, trong dạ lại bồn chồn, mồ hôi ướt đẫm cả thân. Cậu xem kỹ lúc này mới quá nửa đêm, ngủ lại cũng không được, nên dậy tụng kinh Kim Cang và ngồi cho đến sáng. Đến sáng, cậu quyết định đi tìm nơi mà tối qua đã nằm mơ thấy, cậu đi tới những nơi gần đó để tìm xem, vốn dĩ cái cửa nhỏ là gì?
Ô! Nó kia rồi! Cậu vẫn còn nhớ như in cái cửa nhỏ này, đó là cái rãnh nước ở ngoài chuồng heo (nơi chuồng heo người ta đào một cái rãnh để cho phân và nước tiểu của heo chảy ra), chính là nơi tối qua cậu thấy mình đi vào. Bấy giờ cậu cảm thấy lạnh cả xương sống, liền đi tìm người chủ để hỏi thật hư thế nào.
Cậu hỏi:
- Thưa ông chủ! Cho tôi hỏi một chút. Nửa đêm hôm qua có ai đến đây không?
Ông chủ đáp:
- Làm gì có ai, nửa đêm mà đến.
Cậu hỏi:
- Tối qua tôi nằm mộng thấy bảy người đi vào trong đó bằng con đường nhỏ này, chẳng hay bên trong đó có xảy ra việc gì không?
Ông chủ cười và đáp:
- À! Có việc như thế này. Nhà tôi có nuôi heo nái, tối qua heo mẹ sinh được bảy con heo con, sáu con cái và con đực, nhưng con đực vừa sinh ra đã chết rồi.
- Con heo chết ông bỏ đâu? Có thể dẫn tôi đi xem được không?
- Tại sao lại không được nhỉ? Tôi bỏ nó ở bờ rào, cậu theo tôi!
Vừa nhìn thấy con heo đực, cậu biết ngay nó chính là mình, lúc này cậu cảm thấy hai lỗ tai ù ù, không nghe được âm thanh gì hết, trời đất tối om, quay cuồng, đảo lộn, tay chân run rẩy, nói không nên lời (cảm giác của cậu lúc này tôi không thể dùng ngôn từ nào mà lột tả hết được, chỉ có người trong cuộc mới hiểu thấu đáo). Cậu cố gắng chạy về thật nhanh mà miệng luôn lắp bắp: “Nguy… nguy… nguy… hiểm… hiểm… quá… quá!”. Tối hôm qua nếu không có thần Kim Cang quát cậu: ” Người tụng kinh Kim Cang không được phép vào nơi này”, và không dùng chày nện lên đầu cậu chắc chắn bây giờ cậu đã làm heo rồi. Sau khi tỉnh táo trở lại, cậu đến núi Phổ Đà xin xuất gia. Phương trượng núi Phổ Đà hỏi cậu:
- Tại sao ông muốn xuất gia? (tức là hỏi động cơ nào khiến ông đi xuất gia).
Cậu bèn đem tất cả mọi việc kể cho Phương trượng nghe. Nghe xong, Phương trượng nói:
- Như vậy cậu là người rất có thiện căn.
Nhân đó, Phương trượng đặt pháp danh cho cậu là “Liễu Tình”. Cho nên, gọi thầy là “Liễu tình Hòa Thượng”.
Mọi người khi nằm mộng cần phải đặt biệt chú ý, nhất là những bạn thanh niên, dù gặp thiếu nữ rủ cũng không đi. Các bạn có thể trả lời: “Tôi không đi đâu! Tôi có con đường của tôi!”. Muốn đạt được chính niệm như thế, cần phải luyện tập niệm Phật trong mộng. Nếu trong giấc mộng không có khả năng niệm Phật, mà còn bị giấc mộng lôi kéo thì thật nguy hiểm! Cổ đức có bài thi:
Nhất trán cô đăng chiếu dạ đài
Thượng sàng thoát khước miệt hòa hài
Thức thần diểu diểu tùy mộng khứ
Vị tri minh triêu lai bất lai?
Tạm dịch:
Một ngọn đèn con chiếu đêm dài
Lên giường cởi bỏ giày và tất
Thần thức mịt mờ đi theo mộng
Ngày mai không biết sẽ ra sao?
Chính là nói lúc ngủ cần phải để một ngọn đèn sáng hiu hiu, đây là thói quen của tất cả người dân chúng ta từ xưa đến nay, nên mới nói: “Một ngọn đèn con chiếu đêm dài”. “Lên giường cởi bỏ giày và tất”. Lúc đi ngủ cần phải bỏ cởi giày và tất. “Thần thức mịt mờ đi theo mộng”. Nếu ta không có sự tu tập, không có chính niệm niệm Phật, lúc đó thần thức của chúng ta sẽ mờ mờ mịt mịt luôn đi theo giấc mộng. “Ngày mai không biết sẽ ra sao”. Lúc nằm ngủ mà giống như Hòa thượng Liễu Tình thì thật nguy hiểm, nếu không nhờ thần Kim Cang đánh, chắc chắn sẽ không trở lại, sáng mai có còn hay không, không ai có thể biết được.
Trên đời này, không có ít trường hợp nằm ngủ rồi mới chết luôn. Có người cho rằng: ” Nhờ có tu hành, mới chết như vậy, không có sự thống khổ thì tốt chớ sao!”. Chết như thế này cũng không bảo đảm cho mấy, nếu trong mộng mà đi theo chư thiên và cõi trời thì chúng ta thừa nhận có thể tốt. Nhưng, vạn người chỉ có một mà thôi, còn toàn bộ giống như hòa thượng Liễu Tình cả, nếu chết như vậy không được gọi là có tu được! Đây chính là nói: phải luyện tập trong mộng. Nếu như trong mộng nhớ niệm Phật, thì khi lâm chung sẽ có chính niệm và sẽ nắm chắc được con đường vãng sinh.
Trích Tư Lương Người Tu Tịnh Độ
Tác giả: Pháp sư Hội Tính

Lý nhân duyên

Có bao giờ bạn để ý rằng trên thế giới này , mọi người có thể gặp được nhau là nhờ vào “duyên ” tại sao giữa rất nhiều người ta gặp ta chỉ yêu một người , và cũng có rất nhiều nguời , mà ta chỉ gặp người này mà không phải gặp người kia . và cũng có trường hợp một người  ta chỉ mới gặp lần đầu mà ta đã thấy cảm mến và như thân quen tự bao giờ rồi . Tôi tin chắc nếu bạn nào để ý và suy ngẫm ít ra mình cũng đã từng gặp trường hơp như thế . Tất cả những điều đó đều có thể nói đó là chữ “duyên ” hay nói cách khác mọi vật sinh ra đều có duyên , mà trong đạo phật gọi là nhân duyên .
Lý nhân duyên
Phúc Trung
I.- Định nghĩa : Nhân là phần chính có năng lực phát sanh, Duyên là phần phụ để hổ trợ cho nhân phát sanh ra sự vật. Nhân duyên là một định lý, theo đó mọi sự vật trong vũ trụ đều có nhân duyên phối hợp với nhau mà thành, khi nhân duyên đã hết sự vật ấy sẽ không còn.
II.- Thí dụ : Hạt đậu là nhân, phải có người gieo trồng, có đất, nước, không khí, tia nắng mặt trời là những phần phụ, chúng hòa hợp lại, làm cho hạt đậu nẩy mầm, ra lá, lớn lên rồi đơm bông, kết trái. Như cái chén ta dùng để ăn cơm, đất là nhân, người thợ, khuôn, nước, lửa nung là phần phụ phối hợp với nhau làm thành cái chén.
III.- Những đặc điểm của lý nhân duyên : Nhân duyên là một định lý hiện thực, nêu rõ mọi sự vật được hình thành đều do nhân duyên phối hợp mà sanh ra, cho nên Lý nhân duyên chi phối tất cả sự vật.
IV.- Sự ứng dụng của lý nhân duyên : Chúng ta cần phải hiểu rõ lý Nhân duyên để thấy được sự thật của cuộc đời, nhờ đó nó giúp cho chúng ta tu học ngày càng tinh tấn hơn, nhất là trong các trường hợp :
1) Lý nhân duyên cho chúng ta biết, mọi sự vật ( pháp ) do nhân duyên phối hợp chớ không phải sự vật có thật mà nhân duyên cũng chỉ là sự vật, chúng cũng do sự hòa hợp mà thành chớ không có thật.
2) Lý nhân duyên nêu rõ sự tương quan của các sự vật, sự vật hình thành nhờ sự tương hợp giữa các pháp. Trong các nhân duyên hoà hợp thành sự vật, nếu nhân hay một duyên trong sự vật thay đổi thì sự vật ấy thay đổi, ví dụ nếu ta lấy gỗ làm bàn, ta có cái bàn gỗ, nếu ta lấy sắt làm bàn ta có bàn sắt, còn cũng thời bàn gỗ, nếu gỗ ta lớn, ta đóng thành bàn lớn, nếy gỗ ta nhỏ, ta đóng thành bàn nhỏ mà thôi.
3) Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật do nhân duyên phối hợp tạo thành nhất thời chớ không phải tự nhiên có mà cũng không do một đấng quyền lực nào tạo ra.
4) Lý nhân duyên cũng cho chúng ta biết rằng khi nhân đã có mà không có đủ duyên thì sự vật cũng không thể hình thành được. Ví dụ chúng ta có gạo, có nước, có củi, có nồi chúng ta muốn có cơm ăn mà không có lửa thì chúng ta cũng không thể nấu cơm, lại nữa, chúng ta có gạo, có nước, có củi, có lửa mà không có nồi cũng không thể nấu cơm mà ăn. Lý nhân duyên nầy cũng để chúng ta tự chủ đời của mình, nó tốt, xấu, giàu, nghèo đều là những nhân duyên do chúng ta tạo tác nên.
5) Lý nhân duyên giải thích cho chúng ta biết vì sao người làm việc nầy thành tựu nhanh, ta cũng làm việc ấy mà thành tựu chậm, chẳng hạn như hai người cùng tu pháp môn như nhau mà người thành tựu kẻ lại chưa kết quả ! Có người tu sao suông sẻ, mình tu lại có lắm trở duyên ! Tất cả do nhân duyên, đầy đủ thì thành mà chưa đủ nên còn chậm đó thôi. Tại sao anh B thích tu với Thiền sư Nhất Hạnh, chị B thích tu với Thiền sư Thanh Từ, cô A thích tu với Ni sư Huệ Giác theo pháp môn Niệm Phật, đó cũng do nhân duyên thầy trò. Xưa Tế Công Hòa Thượng muốn cứu độ cho một người mà không thể độ được, vì người đó không chịu làm theo, ngài buộc miệng than : ” Vô duyên bất năng độ ” .
V.- Kết Luận : Lý nhân duyên cho chúng ta thấy mọi sự vật hòa hợp với nhau mà thành, khi nhân duyên không còn đủ chúng tự nhiên thay đổi hay tan rã, sự vật đều không tự nhiên có nên không có thật, hiểu được như thế chúng ta sẽ dễ dàng tu học, dễ dàng thực hành hạnh bố thí, nhìn đời là một tuồng huyễn hóa, tan hợp đều do nhân duyên. Nhờ đó tích cực tạo cho mình một đời sống an lạc, tự tại và giải thoát.