Tuesday, July 19, 2011

 CHIA SẺ VÀ CẢM THÔNG _ T.T Thích Nhật Quang

.Chúng ta đã vào mùa an cư kiết hạ nhưng công tác xây dựng hai ngôi nhà May mặc và Bệnh xá chưa được hoàn chỉnh. Thầy có suy nghĩ cách đây một tuần rồi, nhưng tới sáng hôm nay mới vô sớm huy động Ni chúng dọn dẹp hai căn nhà này để chính thức đưa vào sử dụng. Bây giờ chúng ta đã đủ duyên họp mặt mừng ngày hoàn thành hai Phật sự nho nhỏ, bổ sung cho công tác xây dựng tạo cơ sở mặt bằng tu học của Ni chúng Trí Đức.




Huynh đệ phát tâm tu là quý rồi lại đủ duyên gặp thầy tốt, bạn tốt, sống trong điều kiện cơ sở tương đối tiện nghi thích hợp, thoáng mát để chúng ta yên tâm tu hành, nhất định ai cũng sẽ có thể gầy dựng được công phu tiến bộ. Đó là phúc duyên đặc biệt của chúng ta. Nhân đây Thầy có ít điều đóng góp với đại chúng trong chương trình tu học chung của viện.



Nhà may được gọi là nhà Trang Nghiêm pháp phục của viện. Bệnh xá là nơi có thuốc men, khi ni chúng bị bệnh yếu có thể nghỉ riêng điều dưỡng để mau chóng lấy lại sức khỏe, cùng tu cùng học vui vẻ với huynh đệ, nên gọi là nhà An Lạc. Sự sắp đặt này trước là nhờ hồng ân Tam Bảo gia hộ, ân đức của Hòa thượng Trúc Lâm nên tất cả các Viện đều có những tiện nghi ổn định trong sinh hoạt tu học. Chư Ni phải ghi nhớ công lao và tâm nguyện này của Sư Ông. Sư Ông muốn bên Tăng có sự quản lý bên Tăng, bên Ni có sự quản lý bên Ni. Khi nhận chỉ giáo, đại lao của Hòa thượng cùng huynh đệ sắp đặt việc tu học tại Tổ đình Thường Chiếu, các Thiền viện Ni phụ cận, đồng thời tại Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức Tăng và Ni này, Thầy mong đại chúng hoan hỷ hướng về Sư Ông với niềm quý kính, theo chủ trương đường lối Sư Ông chỉ dạy, chúng ta ổn định việc tu học của mình.



Hôm nay Thầy muốn nói với tụi con về kinh nghiệm sống trong sự cảm thông và chia sẻ giữa huynh đệ với nhau. Sống chung trước nhất ni chúng phải có sự đồng tình cảm thông, từ đó mới có thể chia sẻ cho nhau được. Chữ chia sẻ tức là cảm thông. Thí dụ trong dòng tộc người đó có sự cố khiến họ không vui cảm thấy mất mát, bất an nên họ tới kể cho mình nghe. Ta lắng nghe và cảm thông an ủi họ, như thế gọi là chia sẻ. Vì vậy chia sẻ đối với người tu là một đạo tình Linh Sơn cốt nhục.



Trong Quy chế phụ của bản Thanh Quy, Sư Ông dạy: “Khi lao tác chung hoặc riêng, thiền sinh sẵn sàng tương trợ nhau. Khi thấy huynh đệ làm công việc nặng nhọc hơn, hoặc trễ nải hơn, không được vô tình làm ngơ để mặc”. Điều này có khi tụi con chưa cảm thông được, do vậy Thầy nêu lên để nhắc nhở thêm. Giả tỷ bữa nay công tác của mình không phải trong trù phòng, mười giờ nghe hồi kẻng xả công tác, mình thu xếp dụng cụ gọn gàng vô nghỉ, đợi đến 10g45’ đi thọ trai. Tuy nhiên nhìn thấy huynh đệ bên phòng trai soạn còn tất bật với công việc, làm không kịp, khi đó mình chia sẻ. Tụi con mỗi người một tay phụ giúp cho kịp giờ thụ trai. Thầy nghĩ được như vậy thì vui lắm. Các vị bên trù phòng tuy không nói lời cảm ơn, bởi mình ở chung một nhà mà cảm ơn cái gì, chuyện đó là bổn phận chung chị em phải làm thôi, nhưng họ sẽ nhìn mình cười một cách vui vẻ và cảm ơn.



Trong giờ tọa thiền, tụi con thấy một số huynh đệ mới của mình chưa quen thức khuya, ngồi thiền chưa quen giống như đang bị hành khổ thì tụi con nên chia sẻ thế nào? Đây cũng là vấn đề mà nhiều năm trước Thầy đã trải qua. Thầy ngủ nhiều lắm. Một hôm Sư Ông đang ngồi chơi, Thầy lại gần và hỏi cách trị ma hôn trầm. Sư Ông trả lời vui nhưng rất nghiêm chỉnh. Thực hành theo lời chỉ giáo của Sư Ông, Thầy giảm được cơn bệnh buồn ngủ. Trong chúng khi nghe được lời dạy đó họ thông cảm và cũng đẩy lùi được bệnh buồn ngủ.



Sư Ông chỉ rõ hai bệnh mà người tu thiền chúng ta khó vượt qua, đó là hôn trầm và tán loạn. Chúng giống như gọng kìm, cái kéo luôn rình rập cắt cổ chúng ta, nếu hành giả nào nhận được điều đó, nghĩ tới là tỉnh liền. Trong trường hợp này chúng ta phải phát tâm dũng mãnh và hành trì miên mật. Dũng mãnh là mạnh mẽ, mãnh liệt. Mạnh mẽ là phi thường vượt lên tất cả. Miên mật là dán kín không bị xen hở. Hôn trầm, tán loạn đều là ma mị làm hại công phu thiền định của mình, Sư Ông dạy trong tất cả các giờ tụng kinh, tọa thiền và luôn cả giờ tu tập khác như thụ trai, học hay lao tác… lúc nào mình cũng phải có tâm dũng mãnh, toàn ý miên mật thì sẽ đánh tan bọn ma mị ấy.



Chúng ta từ vô lượng kiếp trôi giạt trong luân hồi sanh tử, khổ đau không biết bao nhiêu mà kể. Bây giờ có cơ hội để mãnh tỉnh kiên quyết tu hành mà cứ ngồi lăng xăng dật dờ thì thật là uổng phí. Cho nên tụi con phải tự đặt định cho mình phải sáng. Mình rất sợ rất ngán cái vòng luân hồi sanh tử nhiều đời kiếp, làm cho chúng ta bị khổ điêu đứng. Cái khổ này không phải là do thiếu cơm gạo, thiếu tình thương hay tiền bạc mà đây là cái khổ ngu mê tạo nghiệp trong sanh tử không có lối thoát. Đó là nỗi khổ lớn lao nhất của chúng sanh.



Nếu tụi con khắc tỉnh phấn đấu kiên quyết sẽ đẩy lùi được bệnh buồn ngủ và tán loạn. Nếu không sẽ hết buồn ngủ lại sanh tán loạn, nghĩ vơ nghĩ vẩn rồi bước xuống bồ đoàn thì tụm năm tụm ba nói chuyện thị phi. Đó là bệnh từ xưa đến nay của các vị mới vào cửa thiền. Trị được bệnh này thì mình được giác, tức Bồ-đề hiện. Còn không, dù cho có học muôn kinh ngàn luận cũng không giác ngộ đâu.



Chúng ta đã chấp nhận bỏ tất cả vào đây tu thì phải có tỉnh giác, hành trì theo đúng sự hướng dẫn của các bậc thầy tổ, các bậc thiện hữu tri thức, các bậc huynh trưởng. Dù bây giờ chưa toàn giác nhưng nhất định có giác. Cái giác đó không được liên tục nhưng nếu biết cách nuôi dưỡng, nó sẽ trở thành viên ngọc sáng, bề nào mặt nào cũng sáng hết thì mọi lầm lẫn tăm tối bên ngoài sẽ không làm gì được mình.



Nhân đây Sư Ông có lấy câu chuyện về hai con khỉ làm thí dụ. Trong ngôi nhà có một con khỉ, nó chạy lung tung từ cửa này sang cửa khác kêu chóe chóe, ở bên ngoài có một con khỉ khác cũng đi lòng vòng kêu như vậy. Sư Ông đặt vấn đề, với hành giả tu thiền phải xử lý thế nào hai con khỉ này? Một vị thầy trả lời đúng ý Sư Ông: “Thưa Thầy cho con khỉ trong nhà ngủ đi, chết đi thì con khỉ bên ngoài có la rát họng cũng không nghe tiếng trả lời”. Khi con khỉ trong nhà ngủ hay chết rồi là dụ cho điều gì? Đó là ý thức, vọng động điên đảo, tư tưởng dây mơ rễ má khiến mình bất an bất ổn. Con khỉ trong nhà chết rồi thì ở ngoài dù cho có cả trăm cả ngàn con khỉ cũng không làm gì được hết. Nếu chúng ta không có tâm dính mắc thì mặc cho ngũ dục, bát phong, những hiện tượng bên ngoài không làm gì được mình. Tụi con thấy không, nhẹ nhàng và thẳng tắt như vậy đó.



Ngày xưa thầy trò ở trên núi thảnh thơi lắm không phải làm gì nhiều cả. Buổi sáng đi lao tác khoảng mười lăm, hai mươi phút thôi mà làm những việc nhẹ như đi gỡ cỏ, hái mãng cầu hay đốn mấy nải chuối chín, cho nên có rất nhiều thời gian. Sư Ông thường ngồi trên bệ đá rồi quý thầy vây quanh, mỗi lần đọc sách có chuyện gì hay Sư Ông đều kể lại quý thầy nghe. Từ câu chuyện đó quý thầy dũng mãnh cương quyết, dứt khoát và hình thành cho mình một lối tu tập miên mật, cộng thêm những kinh nghiệm của người xưa đã áp dụng dạy lại chúng ta, nhất định mình biết cách xử lý và trị được căn bệnh buồn ngủ.



Sư Ông nói với quý thầy muốn trị bệnh buồn ngủ không khó. Hồi đó Thầy bị bệnh này kéo dài gần ba năm trời nhưng đâu có ai biết. Có một lần Thầy mới ngồi được mười năm phút, bất chợt như có một cái gì đánh ầm khiến Thầy lộn nhào, đầu đập qua một bên bây giờ vẫn còn dấu hủm trên trán. Đây là một kỷ niệm mà khi kể cho Sư Ông nghe, Sư Ông cười thôi là cười. Cũng may nhờ những trận như vậy mà mình tỉnh. Sư Ông dạy trước khi bước lên bồ đoàn mà thấy hơi ngùi ngùi thì phải phấn chấn lên, mở con mắt thật to, hít thở mạnh, phải cương quyết thì tất cả những thứ tăm tối ươn yếu xung quanh sẽ lui.



Từ lời chỉ giáo của Sư Ông, Thầy rút ra được một số kinh nghiệm: Khi thấy người huynh đệ ngủ gục mình chia sẻ bằng cách đừng ngủ gục. Thấy huynh đệ ngồi không ngay mình chia sẻ bằng cách ngồi thật ngay. Thấy huynh đệ ngồi không hết giờ mình chia sẻ bằng cách cố gắng ngồi hết giờ. Nói tóm lại dùng sức phấn đấu bên trong của chúng ta, chia sẻ và trang nghiêm đạo tràng. Những người hay ngủ gục khi nhìn thấy toàn thể pháp hữu huynh đệ của mình ngồi ngay ngắn như những tượng Phật thì họ cảm thấy xấu hổ vì đã đánh mất một thời gian tăm tối điên đảo, vì thế sẽ cố gắng hơn.



Sư Ông rất thích thú chỗ này và dạy cho quý thầy cách làm cho nội tại mình phải vững, phải gan dạ như tinh thần vị tha của Bồ-tát theo cách quảng diễn của kinh Hoa Nghiêm. Thấy người ta mê mình đừng mê, thấy người ta giận mình đừng giận, thấy một người khỏe mạnh trong lòng nghĩ làm sao tất cả những người huynh đệ pháp hữu của mình đều khỏe mạnh. Được ăn một bữa ăn thật ngon thì nghĩ ai nấy đều được ăn ngon như vậy. Được đi trên cây cầu bình an thì nghĩ ai ai cũng được đi trên những cây cầu bình an. Đó là tinh thần của Bồ-tát, tinh thần tích cực phát huy sức mạnh nội tại chính mình.



Nhớ lại những điều ngày xưa được Sư Ông chỉ giáo, Thầy ghi nhận rồi áp dụng, đồng thời cũng muốn chia sẻ với tụi con về vấn đề này. Những năm 1970, 1973 trên Chân Không chỉ có mười người mà chưa hết mùa hạ đầu đã đi bốn người rồi. Sư Ông vẫn giảng dạy bình thường dù chỉ còn có mấy người. Có lúc Sư Ông cũng buồn chứ, bởi Sư Ông có tâm nguyện tổ chức một thiền viện quy cũ, các thầy tu tập có kết quả tốt. Từ chỗ nhận được ý chỉ Phật pháp, đem ra giảng dạy mà bây giờ chưa hết ba tháng đầu đã có một số người cho là đủ rồi ra đi. Sư Ông bình thản gật đầu và chỉ nói một câu “ráng tu” chứ không cản gì hết.



Trong khoảng trống buồn đó dường như có một nội lực gì khác dồn tới khiến Sư Ông vững vàng mạnh mẽ hơn. Do vậy khóa thiền đầu tiên vừa mãn, Sư Ông tiếp tục nhận những khóa kế. Khóa tiếp chia làm hai từ Chân Không xuống tới Linh Quang. Nếu trong lòng Sư Ông buồn nản thì làm sao có thể tiếp tục giảng dạy, phải không? Điều này Thầy nói ra để nhắc nhở tụi con, Thầy biết tụi con cũng có lúc nản lòng. Giả tỷ bị rầy hoài hoặc làm gì sai cũng thấy không vui. Muốn ngủ muốn thức, muốn tỉnh táo cũng không được… nhưng tụi con nhớ gương của những bậc Tôn sư, những bậc thầy đi trước, tự nhiên sẽ mạnh mẽ lên thôi.



Khóa thiền thứ nhất thất thoát như vậy nhưng đến khóa thứ hai tại Linh Quang và Chân Không đã lên tới mấy chục thiền sinh. Các vị học trò hồi đó của Sư Ông bây giờ đều là Hòa thượng, Ni trưởng cả. Nếu thực sự trong lòng Sư Ông nản thì làm sao có thể giảng nổi. Sư Ông giảng liên tục sáng chiều một tuần ở Chân Không, rồi kế tiếp một tuần dưới Linh Quang, vừa giảng dạy vừa soạn sách. Soạn sách ngay trong lúc bận rộn việc giảng dạy. Vừa giảng dạy vừa hướng dẫn tu hành, tụi con thấy Sư Ông hy sinh cỡ nào và năng lực của Sư Ông phi thường ghê chưa?



Sau này thành lập Tổ đình Thường Chiếu vất vả nhọc nhằn gấp bao nhiêu lần. Rồi đến các Chiếu: Viên Chiếu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu … ra đời. Tụi con tưởng tượng sự vất vả nhọc nhằn, công phu và tâm huyết của Sư Ông để vào đó biết kể sao cho vừa. Nhìn tấm gương vì đạo của bậc Tôn sư như vậy, bây giờ mình nỡ lòng nào lẹt đẹt, trì trệ không cương quyết phấn chấn lên. Thầy dẫn lại những điều được học từ Sư Ông Trúc Lâm với mục đích muốn tụi con lúc nào cũng nêu cao ý chí hướng về Sư Ông, hướng về các bậc pháp hữu huynh trưởng của mình, cùng cố gắng thì không bao lâu bệnh buồn ngủ hay bất cứ bệnh gì cũng sẽ được đẩy lùi.



Một điều nữa Thầy muốn nhắc thêm tụi con là mỗi người nên trang bị cho mình một đức tàm quý. Tàm quý có nghĩa là gì? Tàm nghĩa là tự tàm, tự mình xấu hổ, tự mình hổ ngươi. Quý là quý tha tức là thẹn, biết xấu hổ với chúng bạn, thẹn với người khác. Tại sao người ta được như vậy mà mình không được như vậy, phải biết xấu hổ. Tại sao người ta cố gắng như vậy mà mình không cố gắng như vậy, phải biết tự thẹn. Giả tỷ như ba giờ người ta thức mà mình không thức nổi thì phải tự tàm. Người ta thức được mình thức được… Thầy nghĩ trong chúng nếu nhận ra được yếu chỉ này, tập nuôi dưỡng đức tàm quý thì sẽ tạo được một sức mạnh nội tại vững vàng. Một khi đức tàm quý sáng ngời thì những sai trái, lỗi lầm sẽ không còn nữa.



Thầy ví dụ chuyện cấm xài điện thoại cầm tay. Quy định này đã được áp dụng tại Tổ đình Thường Chiếu và các thiền viện khác, ngay cả thiền viện của chúng ta đây cũng vậy. Điện thoại di động tuy tiện dụng nhưng đối với người tu lại trở nên tai hại, có thể dẫn chúng ta đi vào ma đạo. Các vị không chấp hành theo quy định, không đủ sức bỏ điện thoại là người không có tàm quý. Tại sao? Phải biết hổ thẹn chứ, người ta làm được thì mình phải làm được, đúng không. Trong nhân duyên tốt thuận lợi như thế này, tụi con lại còn trẻ, còn khỏe mạnh chưa có ai lẫn lộn gì hết nên đủ gan dạ áp dụng đúng lời dạy của Phật Tổ. Tụi con cố gắng. Thầy bước trước tụi con một chút và cũng đang cố gắng, luôn luôn cố gắng.



Tụi con là thiền sinh khóa đầu tiên của viện, tụi con phải cố gắng vào nề nếp. Không bao lâu tụi con sẽ là sư tỷ, đàn em tới sau họ thấy sư tỷ nghiêm chỉnh, họ hoan hỷ noi theo. Có thế đạo tràng mới nở ra, tông môn của Hòa thượng mới phát huy, tâm nguyện tiếp độ người sau tu học đúng chánh pháp của Thầy trò mới thành tựu. Đó cũng là trách nhiệm của những người con Phật. Tụi con ghi nhớ và cố gắng. Ai làm việc gì sai quy chế nhớ biết hổ thẹn thì mọi việc sẽ tốt thôi.



Đó là những điều mà hôm nay Thầy muốn chia sẻ với tụi con.



CỘI NGUỒN SANH TỬ VÀ GIẢI THOÁT _HT Thích Thanh Từ

    Bài giảng hôm nay với đề tài Cội nguồn sanh tử và giải thoát, quí vị cố gắng lắng nghe, nếu lãnh hội được thì rất tốt, ứng dụng tu tập sẽ thấy lợi ích rất lớn. Chúng ta trầm luân sanh tử đã vô lượng kiếp rồi, vì không biết nguồn gốc tại sao phải trầm luân sanh tử, nên theo đó tạo nghiệp nối tiếp sanh tử mãi mãi. Bây giờ muốn ra khỏi sanh tử, phải biết nguyên nhân dẫn đi trong sanh tử, đoạn trừ nguyên nhân ấy mới có thể giải thoát sanh tử được.




Trong kinh Phật nói, chúng sanh do si mê tạo nghiệp đi trong sanh tử luân hồi. Si mê là gì? Là vật trắng mà nói đen, phải nói quấy, đúng nói sai, cái nhìn lệch lạc không đúng sự thật gọi là si mê. Như vậy chúng ta có đồng ý mình đang si mê không ? Chắc không đồng ý, vì ai nói mình si mê thì giận lắm. Sự thật chúng ta đang si mê. Si mê cái gì? Thân này giả mà nói thật hoặc cũng biết nói giả, nhưng thực tế chưa sống được với cái thấy giả ấy. Đa số đều thấy thân này thật, thấy như vậy có đúng với sự thật không? Nếu thật thì ông cố, ông sơ, ông nội, ông ngoại mình tới giờ còn nguyên, vì thật nên đâu có mất. Chúng ta kiểm lại còn người nào không, tới cha mẹ, rồi lần lần tới mình, ai có mặt rồi cũng phải chết hết. Có mặt một thời gian rồi mất thì nói thật được không? Vậy mà chúng ta cứ thấy thật.



Sự còn mất của chúng ta trên thế gian này không ai lường trước được. Có cơ quan bảo hiểm nào dám bảo hiểm cho mình sống trăm tuổi không? Bảo hiểm khi nào chết bất đắc kỳ tử thì họ bồi hoàn, chớ không ai dám bảo hiểm tới một trăm tuổi. Đó là một lẽ thật. Vì mạng sống chúng ta mong manh, bất thường. Nếu xét kỹ chúng ta không biết mình sống được bao lâu, hết duyên thì đi chớ không ai biết mình sống tới lúc nào. Đức Phật dạy “mạng người trong hơi thở”, hít vô không thở ra là chết. Thở ra không hít lại thời gian bao lâu? Chừng vài giây đồng hồ. Có nhiều người đang ngồi nói chuyện với mình, bất thần nhồi máu cơ tim tắt thở. Hồi đang nói chuyện mình thấy họ thật, khi tắt thở thấy không thật. Những hình ảnh này luôn xảy ra trước mắt chúng ta. Như vậy thân giả mà ngỡ thật, có phải si mê không? Si mê rồi. Đó là nói theo thời gian.



Trong cái giả mà ngỡ là thật thì có những tai hại vô cùng. Thân giả mà ngỡ là thật, nên những gì nó đòi hỏi chúng ta chiều theo, chạy theo nó, mới có tranh giành vật chất. Ít thì tranh giành trong phạm vi giới hạn của gia đình, còn nhiều thì tranh giành không thể kể. Bởi vì thấy thân là thật, nên tất cả những nhu cầu vật chất chúng ta quí và muốn giành phần hơn về mình. Có ai chịu nghèo hơn người khác đâu, cái gì người ta hưởng thụ mình cũng muốn hưởng thụ cho được. Muốn mà không toại nguyện, sanh ra bực tức, hung dữ. Như vậy từ mê lầm sanh ra tham lam.



Tham lam muốn thụ hưởng tất cả mọi thứ trên đời, người ta có mình cũng phải có. Từ tham lam nên giành giựt với nhau, nhỏ thì giành giựt trong chòm xóm, lớn nữa thì giành giựt cả làng cả nước. Đó là lý do tại sao nước này đem quân đánh nước kia, cũng tại tham mà ra. Từ thấy thân thật nên con người sanh ra hung dữ, giành giựt với nhau. Hung dữ giành giựt là cái cớ để giết hại tàn sát lẫn nhau, gốc từ si mê mà ra. Khi nhìn thấy tường tận thân này là giả thì không còn tham nữa. Nó không thật thì tham cái gì, tham để làm gì, tự nhiên hết tham. Tham hết thì tự nhiên không giành giựt đấu tranh giết hại lẫn nhau. Nếu chúng ta nhìn thấy đúng như thật, thân không thật thì gốc tham hết. Tham hết thì sân cũng hết, bao nhiêu đó thành Thánh chưa? Không tham gì hết, không giành giựt với ai, không nổi giận ai, không chống đối ai… Chỉ cần một cái nhìn đúng về con người của mình thì mọi xấu xa hết. Mọi xấu xa hết thì tự nhiên chúng ta trở thành người hiền lương, tốt đẹp. Cho nên, biết thân này duyên hợp, tạm bợ không thật để chúng ta không còn lầm mê nữa. Đó là cái nhìn thứ nhất.



Người đời chấp thân thật rồi, còn chấp tâm thật nữa. Những suy nghĩ hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất, thành bại v.v… đều cho là tâm mình và luôn chấp tâm suy nghĩ ấy đúng. Bây giờ trong gia đình chồng hoặc vợ trình bày suy nghĩ của mình, chồng trình bày, vợ bảo sai, chồng giận không? Bên nào cũng cho mình đúng, một hồi nổi nóng cãi lộn nhau, mà chắc gì cái nghĩ của mình đúng. Suy nghĩ của mình trong một giai đoạn nào đó là hợp lý, nhưng thời gian sau thay đổi nó không còn đúng nữa. Tất cả đều chuyển biến, mà chúng ta cứ cho kinh nghiệm cũ là đúng, lấy đó làm chuẩn bắt mọi người nghe theo. Ai không nghe mình giận, mình ghét. Có phải si mê không?



Quí vị thử tìm xem cái suy nghĩ ở đâu, ra sao? Nếu nó không có chỗ nơi, bỗng dưng dấy lên rồi một lát mất tiêu, thì nó thật không? Quả là không thật. Cái không thật mà bắt người ta nghe theo mình, nghĩ theo mình, thì có độc tài không? Như vậy cả thế gian độc tài hết trơn. Bởi vì ai cũng muốn thiên hạ nghe lời mình, theo cái suy nghĩ của mình. Nhưng thử đặt câu hỏi lại, chúng ta nghĩ đúng trăm phần trăm không? Không ai dám chắc. Không dám chắc mà bắt người ta theo, có khổ chưa! Đó là điều tất cả chúng ta đang mắc phải. Nhỏ thì trong gia đình, lớn thì ngoài xã hội, lớn nữa thì cả thế giới. Nhóm nào cũng phải, cũng hay hết thành ra cãi lộn nhau, mạnh nữa thì giết chóc luôn. Đó là điều hiểm nguy của nhân loại. Thân và tâm không thật mà thế gian ngỡ thật là lầm lớn, dẫn đến khổ lớn. Đó là căn bản đau khổ của loài người.



Có người đặt câu hỏi, nếu thấy thân không thật, tâm không thật thì con người hết muốn làm ăn, chán đời chết. Phải vậy không? Không phải vậy. Bồ-tát thấy thân không thật, thấy tâm sanh diệt giả dối, nên lăn vào cứu đời. Tại sao? Vì thương chúng sanh lầm tưởng cái không thật mà cho là thật nên si mê đau khổ. Bồ-tát thấy thế tạo phương tiện để gần gũi, giúp đỡ, hướng dẫn chúng sanh. Thấy chân lý rõ ràng rồi mới thương những kẻ si mê chịu đau khổ vì sự mê lầm, muốn tìm cách kéo họ lên. Cho nên trong nhà Phật có những phương tiện dạy người tu bằng cách đồng sự hóa. Chúng sanh làm việc gì, Bồ-tát cũng làm việc đó để gần gũi giáo hóa họ. Vì lòng từ bi, khi thấy đúng lẽ thật rồi tự nhiên thương người còn mê. Đã thương thì đâu nỡ bỏ, phải làm sao hướng dẫn chỉ dạy dìu dắt họ. Do đó Bồ-tát lăn xả vào đời hơn người thế gian nữa. Biết cuộc đời không thật, bản thân mình không thật, những suy nghĩ không thật, càng thương người càng cố gắng tìm dạy dỗ họ, nên càng sống tích cực hơn.



Đạo Phật là con đường hay phương pháp giác ngộ. Giác ngộ là thấy đúng như thật. Phật thấy đúng như thật nên nói thân người hư dối. Chúng sanh thấy sai sự thật nên nói thân này thật. Từ thấy thân thật dẫn đến bao nhiêu sai lầm khác, chớ không dừng một chỗ. Đó là do chúng ta không tỉnh giác. Nếu thấy thân này giả, lúc đó mê hay giác? - Giác. Thấy thân thật là mê, thấy thân giả là giác. Như vậy tu muốn giác ngộ dễ hay khó? Chỉ đổi cái nhìn thôi, nhìn sai lầm chuyển lại nhìn đúng, hợp với chân lý, đó là giác. Tu theo Phật là giác ngộ tức nhìn đúng, nhìn đúng thì sự tu hành rất dễ. Bình thường nếu thấy thân thật, ai chửi mình không thể nào nhịn nổi. Mình thật thì chửi cũng thật. Bây giờ thấy thân giả thì lời chửi cũng giả, nên Bồ-tát nghe chửi bới, khinh miệt, các ngài cười thôi, vì có dính gì đâu. Đức Phật ngày xưa, khi bị người ta chửi Ngài cũng ung dung tự tại, không một chút buồn giận. Còn chúng ta ngày nay bị chửi thì sao? Đỏ mặt đỏ mày. Cho nên người thấy đúng lẽ thật thì dễ tu, còn thấy sai lẽ thật thì rất khó tu.



Phật tử nói tu không nổi, khó quá. Nhưng thật ra tu không khó mà trái lại rất dễ, chỉ đổi cái nhìn thôi. Cái đó trắng nhưng hồi xưa mình nói đen, bây giờ thấy rõ lẽ thật rồi, trắng mình nói trắng. Đổi cái nhìn như vậy có tốn bao nhiêu công đâu, tại sao chúng ta không chịu đổi? Không chịu đổi rồi nói tu khó, đó là tại mình cố chấp chớ đâu phải tu khó.



Hồi xưa có một anh chàng bán thịt ngoài chợ. Hôm đó được vị thiện tri thức giáo hóa thức tỉnh, anh liền làm bài kệ sau:



Tạc nhật dạ-xoa tâm,

Kim triêu Bồ-tát diện,

Bồ-tát dữ dạ-xoa,

Bất cách nhất điều tuyến.



Dịch:



Hôm qua tâm dạ-xoa,

Ngày nay mặt Bồ-tát.

Dạ-xoa cùng Bồ-tát,

Không cách một đường tơ.



Không cách một đường tơ, chỉ đổi cái nhìn thì thành liền. Thấy tất cả pháp là thật cũng như tay úp, bây giờ thấy nó giả giống như lật ngửa tay lại. Có gì khó đâu mà chúng ta không chịu đổi, rồi cứ kêu trời kêu Phật khó quá. Tu không khó mà khó là do ta không can đảm chuyển đổi cái nhìn của mình. Như vậy mê và giác chỉ là đổi bàn tay úp thành ngửa, một chút xíu thôi, không cách một đường tơ. Không cách một đường tơ mà chúng ta cứ nói khó là sao?



Hôm qua tâm dạ-xoa tức là tâm giết hại. Bữa nay đổi lại thấy tất cả đều giả hết, đó là tâm Bồ-tát. Như vậy chuyển mê thành giác không phải nặng nề như xô ngã cả núi đá, mà nhẹ như tờ giấy thổi liền bay, nhưng không hiểu sao chúng ta không chịu đổi? Bồ-tát với chúng sanh đâu có gì lạ, một bên thấy đúng như thật là giác là Bồ-tát, một bên thấy sai sự thật là mê là chúng sanh. Ta cứ ngỡ Bồ-tát với mình cách xa muôn trùng nhưng sự thật không cách một đường tơ nữa, xoay qua liền xong. Chúng ta biết điều đó sai sự thật, mà cố giữ hoài là đồng ý đi trong đường mê muôn đời rồi.



Tu là phải chuyển đổi từ mê ra giác, chớ không phải cầu Phật cho cái này, cái kia. Nhiều người tu Phật mà cứ cầu xin, ham Phật cho mà không ham chuyển tâm mê thành tâm giác. Đó là sai lầm của đa số người tu ngày nay. Đường giác thì muốn đi, mà đường mê lại không chịu bỏ. Có lạ chưa! Bồ-tát là phần giác tức giác ngộ từng phần. Những gì ta thấy đúng, thực hiện đúng thì thành Bồ-tát. Nếu đúng ít gọi là Bồ-tát con, lớn hơn là Bồ-tát lớn, như các vị Bồ-tát Sơ địa chẳng hạn.



Thế gian cứ cãi lý với nhau hoài, cái phải luôn thuộc về “tôi”. Một trăm cái “tôi” thì một trăm cái phải, cho nên càng phải chừng nào càng cãi chừng đó. Nếu biết được tất cả phải quấy đều không có lẽ thật thì thiên hạ đâu còn cãi nhau nữa. Năm rồi tôi qua bên Mỹ, có một Phật tử kể lại: Ở Mỹ tới bữa cơm, mấy đứa bé trèo lên ngồi trước, rồi cha mẹ, ông bà lên sau. Còn ở Việt Nam dọn cơm ra mời ông bà, cha mẹ rồi con cháu mới lên sau. Phật tử hỏi như vậy bên nào phải? Tôi nói tùy theo phong tục tập quán của mỗi địa phương, không quyết định phải quấy thuộc về bên nào cả. Nếu chúng ta ngồi cãi phải quấy với nhau, chừng nào mới xong. Người này thấy phải thì người khác thấy quấy. Người khác thấy phải thì người này thấy quấy. Hai cái phải gặp nhau thì chỉ còn có cách cãi nhau, không gì khác hơn.



Như hồi xưa tổ tiên mình theo đức Khổng Tử, quan niệm phái nữ phải khuê môn bất xuất, tức người con gái phải ở trong nhà không được ra ngoài đường. Hoặc tam tòng tứ đức, tam tòng là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng, chồng mất theo con, người phụ nữ không có chút quyền hạn gì cả. Quí vị phái nữ ngày nay có đồng ý với quan niệm tam tòng không, có khuê môn bất xuất không? Dĩ nhiên không ai chịu nữa rồi. Bây giờ người nữ chạy xe vùn vụt ngoài đường. Rõ ràng những gì dưới thời phong kiến là phải, đến thời này thì hết phải rồi.



Cho nên tất cả lập thuyết, triết lý này, triết lý nọ không phải là chân lý, nó chỉ đúng ở khía cạnh nào thôi. Đức Phật nói tất cả những gì có hình tướng đều tạm bợ, giả dối. Kinh Kim Cang Phật nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.” Phàm cái gì có tướng đều là hư dối. Nếu thấy các tướng không thật (phi tướng) tức là thấy Phật. Như vậy Phật gần hay xa? Chỉ thấy đúng là thấy Phật vì Phật là giác. Lẽ thật hết sức gần gũi mà chúng ta lại không chịu thấy lẽ thật.



Người tu Phật là người đi đúng với chân lý đức Phật chỉ dạy. Nhưng ngày nay người tu Phật đi sai lệch nhiều quá, nhiều đến gần tám mươi phần trăm. Cứ theo Phật, xưng đệ tử Phật, vào chùa thắp hương xin Phật đủ thứ hết. Phật gia hộ cho con khỏe mạnh, cho con thi đậu, cho con làm ăn phát tài v.v… Nếu Phật cho được thì không còn lý nhân quả nữa. Nhân ai gây thì quả người đó phải hưởng, chớ Phật đâu có can dự vào mà cho quả này quả nọ được. Vậy mà Phật tử cứ cầu xin đủ thứ, đó là sai lầm. Cho nên người học Phật phải đi thẳng vào lẽ thật, nguyện con giác ngộ thấy đúng như thật. Thân giả biết giả, tâm suy nghĩ phân biệt giả biết giả, không tạo nghiệp trong sanh tử nữa, đó mới là người học Phật tu Phật chân chánh.



Chúng ta thấy mê và giác thật quan trọng. Từ mê chấp thân, chấp tâm suy nghĩ hơn thua, phải quấy là thật, nên con người tạo đủ thứ nghiệp, không biết bao nhiêu nỗi khổ. Thân tuy chấp thật nhưng ít nguy hiểm bằng tâm. Vì tâm sai khiến thân, tâm nghĩ bậy thì miệng nói bậy, thân làm bậy. Cho nên tâm là chủ sai khiến, chủ đã sai lầm các bộ phận tùy thuộc cũng sai lầm theo. Ba nghiệp cứ thế mà tạo nghiệp không có ngày dừng, trôi lăn trong đường sanh tử không bao giờ dứt. Trong nhà Phật nói thân, khẩu, ý tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Trong ba nghiệp thì ý nghiệp là tối trọng. Khi chúng ta lầm cho ý nghiệp là thật, rồi chạy theo nó, nó lôi đâu mình đi đó, như vậy luân hồi muôn kiếp.



Phật tử tu hành thành lập đạo tràng cũng là điều hay. Vì sao? Ví dụ Phật tử hiểu đạo, ra đường bị kẻ xấu khinh miệt chửi bới, người đó làm thinh đi, những người chung quanh thấy tức, nói ngu quá. Phật tử sống tốt mà bị chê. Nếu có tu trong đạo tràng, huynh đệ cùng hiểu đạo, hôm nào bị người ta chửi, mình nhịn được về khoe với anh em “hôm qua tôi bị người ta chửi quá mà không giận”, anh em sẽ vui mừng động viên thêm “anh, chị tu khá rồi đó”. Như vậy, có một nhóm cùng chung tu, hiểu biết nhau mới dễ thông cảm. Một người giác sống trong trăm ngàn người mê thì rất khó tu. Người nhịn nhục không được khen mà còn bị chê ngu dốt nữa. Thành ra người ấy bị hai ba cái phiền, bên này đã phiền, bên kia còn phiền hơn.



Chỗ khó của tu hành là vì không có người thông cảm cho mình. Người tỉnh sống với người tỉnh thì rất dễ. Một người tỉnh sống với trăm ngàn người mê rất khó. Khó là tại vì họ mê mình tỉnh. Mình nói cái gì cũng giả họ nói mình điên, còn họ nói thật là đúng. Như vậy để thấy đạo lý khó khăn không phải vì đạo khó, mà vì nhiều người mê quá. Chúng ta muốn tỉnh cũng khó tỉnh vì số đông mê sẽ lôi mình theo họ. Đó là lý do phải có chùa để Phật tử cùng đi chùa, có đạo tràng để cùng tới đạo tràng tu tập, anh em huynh đệ thông cảm nhau. Những gì hay chúng ta khích lệ nhau tiến lên, những gì dở cùng khuyên nhau chừa bỏ. Ngoài thế gian không được tâm đó nên sống gần họ rất khó tu.



Chúng ta tu thiền để được định, nên nói thiền định. Định cái gì? Định cái tâm lăng xăng lộn xộn nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua của mình. Như khi những vọng tưởng giả dối hư vọng dấy lên, chúng ta biết nó giả không theo, lần lần nó mòn yếu, rồi tới lặng yên. Khi nó lặng hết chúng ta mới không bị nó dẫn đi nữa. Còn nghiệp dẫn đi thì còn luân hồi sanh tử, hết nghiệp dẫn đi tức là giải thoát sanh tử. Như vậy nghiệp là nhân dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử, mà vọng tưởng là gốc tạo nghiệp. Những ý niệm lăng xăng lộn xộn là gốc tạo nghiệp. Bởi vì khởi nghĩ là nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ thương nghĩ ghét v.v… những cái đó là nhân tạo nghiệp. Bây giờ nhân tạo nghiệp dừng lặng rồi thì hết tạo nghiệp. Hết tạo nghiệp là giải thoát sanh tử.



Người tu thiền dùng trí tuệ nhìn sâu, nhìn thẳng vào nội tâm. Trong ba nghiệp, ý là số một, mình nhắm thẳng vào chú mà dẹp. Dẹp chú, chú lặng rồi thì miệng và thân cũng hiền lành theo. Vậy gốc là phải diệt trừ niệm sanh diệt lăng xăng. Chúng ta tu muốn được an lạc, giải thoát thì dừng hết niệm. Nhiều người đặt câu hỏi, khi những suy nghĩ lặng hết rồi mình còn cái gì? Tôi nói rõ khi suy nghĩ lặng, chưa phải hết. Như khi quí Phật tử ngồi thiền, niệm khởi biết niệm khởi, niệm lặng biết niệm lặng. Ai biết được niệm khởi, niệm lặng? Rõ ràng mình biết chớ ai! Niệm là cái bị mình biết, còn cái biết “biết được niệm khởi niệm lặng”, cái biết đó không sanh diệt. Cái biết đó trong nhà Phật cũng gọi là Trí tuệ Bát-nhã, dùng nó để thấy thôi, chớ chưa phải cứu kính.



Quí vị nhớ, mười mục chăn trâu trong nhà thiền thường nhắc đi nhắc lại. Mục thứ nhất là chú mục đồng đi tìm trâu. Mục thứ hai gặp trâu rồi tới những mục sau là điều phục trâu, cuối cùng trâu mất. Trâu mất nhưng mục đồng còn, qua mục nữa mục đồng mất luôn, chỉ có một vòng sáng. Đó là tượng trưng khi chúng ta tu, vì còn vọng niệm nên phải vận trí Bát-nhã chiếu phá nó. Nó còn khởi thì mình còn dẹp, chừng nào niệm lặng hết rồi thì trí Bát-nhã cũng buông luôn, lúc đó mới thể nhập cái chân thật. Như vậy, hằng ngày chúng ta nhìn thấy nội tâm dấy động là bỏ, dấy động là quở trách nó hư giả… đó là sử dụng Trí tuệ Bát-nhã. Cho nên trong nhà Phật nói muốn phá dẹp hết vọng tưởng điên đảo phải dùng trí Bát-nhã. Khi dẹp hết tâm lăng xăng rồi, buông luôn Trí tuệ Bát-nhã, lúc đó mình còn cái gì? Nó ra làm sao? Ở đâu?



Bây giờ tôi nói một ví dụ, quí vị nương vào đó nhìn lại sẽ thấy. Khi chúng ta đang tỉnh táo thế này, bỗng dưng quên hết mọi niệm lự, không nghĩ suy tính toán gì cả. Lúc đó chim kêu có nghe không, gió thổi mát có mát không, tất cả những tướng động qua lại bên ngoài có thấy không? Tất cả đều rõ ràng. Tâm có hai thứ: một, tâm sanh diệt gọi là vọng tưởng; hai, tâm chân thật gọi là Chân tâm. Tâm là cái biết, cái biết theo vọng tưởng sanh diệt là cái biết hư dối, cái biết hằng hữu nơi mình không bao giờ thiếu đó là cái biết chân thật.



Quí vị không suy nghĩ mà biết, cái biết đó tướng mạo gì? Không có tướng mạo. Còn cái biết suy nghĩ đều có tướng mạo. Cái chân thật hiện tiền luôn ở bên mình mà mình bỏ quên. Tại sao bỏ quên? Ngài Thần Hội dùng một ví dụ rất hay để chỉ điều này. Như cái gương sáng, khi ta nhìn gương thấy bóng thì chỉ nhớ bóng mà quên gương. Bóng ấy từ đâu ra? Từ gương mà có, nhưng có bóng liền quên gương. Cũng vậy, Tâm thể mình trùm khắp, vừa dấy niệm lên mình theo niệm nên quên Tâm thể. Bây giờ muốn trở lại Tâm thể thì phải dừng niệm. Cũng như muốn gương hiện rõ trước mắt thì đừng có bóng, lúc đó ta thấy gương rõ ràng. Đó là lẽ thật mà lâu nay chúng ta không biết, cứ ngỡ cái suy nghĩ là mình, mất nó chắc mất mình. Không phải, mất nó rồi cái mình thật mới hiện ra. Phật dạy chúng sanh có hòn ngọc quí mà bỏ quên, có tánh Phật mà không chịu giác để mê. Tánh Phật luôn sẵn có, không vắng thiếu lúc nào. Còn suy nghĩ khi có khi không, nhưng chúng ta chạy theo cái sanh diệt có không đó mà quên mất cái thật. Đó là si mê đáng thương.



Chúng ta tu Phật là để giác ngộ. Giác ngộ thân này không thật, giác ngộ tâm sanh diệt không thật, để nhận cái chân thật của chính mình, trong nhà thiền gọi là trở về quê cũ. Đức Phật đã từng tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Tại sao mình chưa tu mà nói Phật sẽ thành? Bởi vì đã có sẵn tánh Phật rồi, chỉ lúc nào nhớ bỏ cái mê lầm thì trở lại ông Phật chớ gì. Như vậy tánh Phật không phải riêng đức Phật có, mà tất cả chúng ta đều có. Phật định được tâm, nên sống trở lại Tánh giác gọi là thành Phật. Còn chúng ta tâm rong ruổi tạo nghiệp luân hồi hoài, vì vậy lang thang mãi trong dòng trầm luân sanh tử.



Thế thì con đường trở về quê hương dài hay ngắn? Nói sao cho đúng? Dường như dài mà thật là ngắn. Chỉ biết rõ tâm sanh diệt không thật, khẳng định như vậy. Chúng ta hiện đang có tâm thật hiện tiền, mà chạy theo bóng thì quên cái thật. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dụ, như chàng Diễn-nhã-đạt-đa sáng lấy gương soi mặt. Nhìn vào gương thấy mặt mày đẹp quá, khi úp gương lại anh ôm đầu chạy la “tôi mất đầu rồi”. Mình có giống anh chàng đó không? Khi khởi nghĩ hay dở nói mình hay mình khôn, đến khi hết nghĩ mình hoảng la “mất tôi rồi”. Đó là giống Diễn-nhã-đạt-đa, chấp bóng quên đầu. Hiểu như vậy mới thấy chúng ta mê lầm thật đáng thương! Từ mê lầm này nối tiếp mê lầm khác, không có ngày ra khỏi. Tu là để giải thoát sanh tử, muốn giải thoát sanh tử phải dừng gốc mê lầm đó. Muốn dừng gốc mê lầm phải thức tỉnh nhìn bằng lẽ thật, nếu không như thế dù tu công quả phước đức bao nhiêu, cũng ở trong sanh tử thôi.



Tâm không suy nghĩ hiện tiền của chúng ta chừng bao lớn? Không có giới hạn. Tại sao trong hội Linh Sơn, Phật không nói một lời? Ngài đưa cành hoa sen lên nhìn khắp hết mọi người, tới ngài Ca-diếp thì ngài Ca-diếp mỉm cười. Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay trao cho Ca-diếp.” Thế là ngài Ca-diếp được Phật truyền tâm ấn. Chánh pháp nhãn tạng là cái gì? Là kho con mắt, là cái chân thật mà lâu nay chúng ta quên. Cái thấy không có tướng mạo, hằng có. Có người nói khi nhắm mắt đâu còn thấy. Nhắm mắt thấy không? Như khi chúng ta đang ngủ, mở đèn lên biết sáng không? - Biết. Lỗ tai thường nghe không? - Thường. Khi ngủ có người gõ cửa cộc cộc ta liền nghe. Như vậy nó thường trực ở đó, nơi mắt nơi tai đều sẵn có đó. Khi Phật đưa cành hoa lên, Ca-diếp nhìn, Phật nhìn lại, Ngài liền cười, đủ biết hai thầy trò thông cảm: con có cái đó, con biết được cái đó. Cho nên Phật mới nói chánh pháp nhãn tạng, tức chánh pháp ở kho con mắt, ngài Ca-diếp ngộ được, bây giờ Phật trao cho. Nói trao mà không có gì để trao cả, vì ngài Ca-diếp đã có sẵn rồi. Từ đó Thiền tông truyền mãi, cho tới ngày nay cũng vẫn như vậy. Phật Tổ chỉ cho chúng ta cái chân thật thường có nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.



Các Thiền sư dùng phương tiện bằng một tiếng hét hoặc bằng câu nói vô nghĩa. Ví dụ sau khi Phật niết-bàn rồi, hôm đó A-nan hỏi ngài Ca-diếp: “Ngoài y bát ra, Thế Tôn còn truyền cho Sư huynh cái gì khác không?” Ngài Ca-diếp kêu: “A-nan!” A-nan: “Dạ.” Ngài Ca-diếp nói: “Cây phướn trước chùa ngã.” A-nan liền ngộ. Như vậy truyền cái gì? Đó là truyền ở con mắt, truyền ở lỗ tai. Nghe nói cây phướn trước chùa ngã, mình cứ tưởng nói chuyện cây phướn.



Sau này, Thiền sư Hoàng Bá tới ở nhờ một ngôi chùa nọ. Một hôm, Tướng công Bùi Hưu tới chùa, thấy có tượng Cao tăng mới hỏi Trụ trì: “Tượng Cao tăng ở đây mà Cao tăng ở đâu?” Trụ trì trả lời không được. Bùi Hưu hỏi: “Ở đây có Thiền sư không?” Đáp: “Có.” Vị Trụ trì mới mời ngài Hoàng Bá ra, Bùi Hưu hỏi: “Vừa rồi tôi hỏi một câu, ngài Trụ trì tiếc lời không đáp. Xin Thầy đáp giùm.” Hoàng Bá nói: “Ngài hỏi đi.” Bùi Hưu lặp lại: “Tượng Cao tăng ở đây mà Cao tăng ở đâu?” Ngài Hoàng Bá kêu: “Bùi Hưu!” Bùi Hưu đáp: “Dạ.” Ngài Hoàng Bá hỏi: “Ở đâu?” Bùi Hưu liền ngộ.



Rõ ràng cái thật đó sẵn nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của chúng ta, trùm hết mà mình không hay. Chúng ta cứ nhớ những lăng xăng trong đầu, chạy theo nó rồi quên hết cái thật hiện tiền. Cái lăng xăng trong đầu thì duyên theo bóng người, bóng vật, bóng cây, bóng cỏ, còn cái sẵn nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng ta, nó hiện tiền mà chúng ta quên lửng. Như vậy, chúng ta bỏ Phật hay Phật bỏ chúng ta? Ai bỏ ai? Ai cũng quí Phật, trọng Phật mà không ngờ lại bỏ Phật. Trọng Phật ở ngoài, Phật bằng gỗ, bằng xi măng, còn Phật thật thì lại bỏ, thật đáng thương không! Chúng ta tu là trở lại Phật thật của chính mình. Vì tượng bên ngoài đâu có giác ngộ được, chính tâm sẵn có của mình mới giác ngộ.



Trong kinh nói Tánh giác trùm khắp không giới hạn. Bởi vì nó không tướng thì đâu lấy gì giới hạn được. Cái to như vậy mình bỏ quên, còn cái thân mấy chục ký đây ta lại quan trọng. Đó là điều mê lầm. Nếu chúng ta thấy được lẽ thật ấy thì đời mình mới có giá trị. Tu là trở lại ông Phật thật của chính mình. Đó là Tánh giác không sanh không diệt, hoàn toàn không còn sanh tử nữa. Chúng ta muốn tu tới nơi tới chốn thì phải quyết tâm. Tất cả luôn nhớ rõ cội nguồn sanh tử là vọng tưởng, cội nguồn giác ngộ là Tâm chân thật hiện tiền của chúng ta. Thân này có bại hoại, nhưng ta có ông Phật thật rồi, không sợ chết nữa. Bại hoại thân hư giả, chớ cái thật đâu có mất. Hiểu như vậy thì sự tu an ổn vô cùng, không còn gì sợ sệt nữa.









Phản quan tự kỷ _ HT Thích Thanh Từ giảng

  Tổ Huệ Khả đến xin Tổ Đạt-ma chỉ dạy pháp an tâm, Tổ Đạt-ma bảo “đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả xoay lại tìm tâm không được, thưa với Tổ Đạt-ma “con tìm tâm không được”, Tổ Đạt-ma liền bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi. Đọc sử tới đây, đa số chúng ta đều ngẩn ngơ. Người tu thiền tâm xao xuyến loạn động, cầu thầy dạy pháp an tâm, điều đó thật chí lý. Nhưng thầy không dạy pháp gì cả, chỉ bảo “đem tâm ra ta an cho”.




Quí vị đem được không? Đâu thể đem được, vì quay lại tìm thì nó mất, như vậy là Tổ đã an tâm cho chúng ta. An bằng cách nào? Tại sao ngài Huệ Khả nhân câu nói này biết lối vào? Đó là điểm đặc biệt. Nhiều người nghiên cứu Phật giáo thiền đều lúng túng không hiểu chỗ này, tưởng người xưa đùa cợt chơi thôi. Sự thật đây là điều quá ư tuyệt diệu, chớ không phải thường. Tuyệt diệu chỗ nào?



Tôi lập lại tinh thần Thiền tông khi Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa truyền bá thiền, qua bốn câu kệ như châm ngôn:



Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền.

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.



Dịch:



Không lập văn tự,

Truyền ngoài giáo lý.

Chỉ thẳng tâm người,

Thấy tánh thành Phật.



Đây là chủ trương, đường lối của Tổ Đạt-ma truyền dạy thiền. Vì thiền truyền ngoài giáo lý nên nói giáo ngoại biệt truyền, không có văn tự, không có giáo lý. Trực chỉ nhân tâm tức chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, tức nhận ra Bản tánh của mình thì thành Phật. Đơn giản như vậy.



Chúng ta học Phật pháp hầu hết nương nơi kinh điển. Nếu học Phật mà không y theo kinh điển làm sao hiểu, nhưng Tổ lại bảo truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Chỗ này kỳ đặc như thế nào? Tổ bảo “đem tâm ra ta an cho”, vì Ngài biết không bao giờ tìm được tâm ấy. Nó là những nghĩ tưởng lăng xăng hư dối không thật có, làm sao đem ra được. Xưa nay chúng ta đều ngỡ tâm hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất, khen chê… là thật, là tâm mình nên cứ chạy theo nó hoài. Đến cả khi ngồi thiền hay niệm Phật cũng thấy bực bội, khó khăn bởi tâm lăng xăng. Do đó gặp thầy muốn hỏi cách trị cho nó hết.



Các vị tu theo Nguyên thủy muốn an tâm thường dạy pháp quán hơi thở hoặc pháp quán Tứ niệm xứ… Ở đây Tổ Đạt-ma không dạy pháp nào hết, chỉ bảo “đem tâm ra ta an cho”. Câu đó làm cho ngài Huệ Khả sửng sốt nhưng không dám xem thường. Khi quay lại tìm thì không thấy, lúc đó tâm an chớ gì. Nên Tổ xác nhận “ta đã an tâm cho ngươi rồi”.



Tổ an tâm mà không dùng một pháp nào, chỉ bảo quay lại tìm xem tâm bất an ở đâu. Khi quay lại tìm nó mất, đó là an tâm. Nhà thiền còn gọi là phản quan tự kỷ, tức xoay nhìn trở lại chính mình. Khi phản quan nhìn lại xem nó ở đâu thì nó mất tức là an. An tâm mà không có một pháp, nên nói không một pháp cho người, tức chỉ thẳng.



Lâu nay chúng ta do mê lầm nhiều đời, lấy giả làm thật, nên trầm luân muôn kiếp. Thân này giả mà ai cũng cho là thật, nên tìm đủ mọi phương tiện nuôi dưỡng, chăm sóc, để thỏa mãn những nhu cầu của nó. Lo được việc đó gọi là người giỏi, khôn ngoan. Nhưng với con mắt nhà Phật không thấy như vậy. Lớp người đi trước như ông sơ, ông cố, ông nội, ông ngoại của chúng ta ai cũng có rồi mất. Người trước mất, lớp người kế mất, tới cha mẹ chúng ta dần dần mất. Cuối cùng chính ta cũng không còn. Như vậy thân giả là điều quá rõ, tại sao mình không chấp nhận nó giả? Phải chạy ngược xuôi lo lắng chu cấp cho nó đủ điều, cuối cùng cũng chẳng giữ được mãi.



Một vị đang ngồi nói chuyện với người bạn thân, bất thần người bạn lên cơn đột quị ngã chết. Lúc đang nói chuyện mình bảo là thật, khi ngã ra chết người đó thật hay giả? Mới giờ trước còn, giờ sau mất, còn mất trong phút giây, không bảo đảm gì hết, làm sao nói thật được. Ngày nay quí vị đóng tiền bảo hiểm, nhưng bảo hiểm thế nào? Bảo hiểm mình chết họ đền, chớ không bảo hiểm mạng sống chúng ta được mười năm, hai chục năm gì cả. Như vậy thân này không bảo đảm chút nào hết, thấy đây bất chợt mất kia, không thật mà chúng ta ngỡ là thật.



Đức Phật nói thân này do tứ đại hợp thành. Đầy đủ bốn thứ đất, nước, gió, lửa thì thân tồn tại, nếu thiếu một thứ nó liền mất. Trong người mình chất cứng là đất, ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn thứ này từ cha mẹ sanh cho tới giờ nó còn nguyên vậy hay luôn đổi thay? Mũi chúng ta mượn không khí ở ngoài hít vô rồi trả ra. Mượn vô trả ra, mượn vô trả ra. Mượn trả đều đặn thì sống, nếu thở khì ra không hít lại thì chết ngay. Vậy sự sống chỉ là vay mượn thôi. Một lát mượn tách nước rồi trả. Mượn ít chén cơm có tiêu, gừng, ớt tức là mượn đất, mượn lửa rồi cũng phải trả. Rõ ràng cuộc sống con người chẳng qua là sự vay mượn. Mượn trả suôn sẻ thì sống, mượn trả không suôn sẻ thì chết. Ví dụ mượn cơm, mượn nước vô mà không trả ra được thì xe hồng thập tự đến chở đi. Như vậy thân này có giá trị chân thật chi đâu?



Nói về tâm, đa số người cho rằng những nghĩ suy khôn dại, hơn thua, phải quấy, tốt xấu là tâm mình. Đối về phần vật chất nhận thân là thật, nên tìm vật chất cung phụng cho nó ấm no. Đối về phần tinh thần nhận suy nghĩ phân biệt là tâm mình thật. Cái thân nặng mấy chục ký này bị tâm suy nghĩ ấy điều khiển. Khi niệm muốn đi dấy lên sai thân đi thì nó đi, niệm ăn cơm dấy lên sai thân ăn thì nó ăn. Tất cả đều do tâm dấy động thúc đẩy thân làm theo. Có nghĩ mới có hành động, có nghĩ mới có nói năng. Như vậy nói năng hành động từ suy nghĩ mà ra. Cho nên tâm suy nghĩ là chủ động, thân là cái bị động. Nếu suy nghĩ là thật thì chúng ta phải biết nó ở đâu, ra sao? Bình thường nó dấy nghĩ hơn thua, nhưng tìm lại thì nó mất, rõ ràng nó không thật. Thiền tông dạy chỉ cần nhìn lại xem cái tâm suy nghĩ ấy không thật thì an tâm ngay.



Thân tạm bợ giả dối chúng ta cho là thật, tâm sanh diệt chợt có chợt không, hư dối chúng ta cho là thật. Lầm nhận hai thứ này thật là người tỉnh sáng hay mê lầm? - Mê lầm. Tất cả chúng ta hiện giờ đang mê hay đang tỉnh? - Đang mê. Thế mà ra đường có ai nói chị mê quá thì nổi sân liền vì ngầm cho mình khôn ngoan, chớ không mê muội. Lúc nào cũng thấy ta khôn ngoan nhưng sự thật không biết mình là gì hết.



Trong kinh Viên Giác, Bồ-tát Văn-thù hỏi Phật: “Thế nào là vô minh?” Đức Phật dạy: “Chấp thân hư giả cho là thân thật, chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần cho là tâm thật, đó là vô minh.” Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là theo hình sắc, âm thanh, hương vị, xúc chạm và bóng dáng của các pháp. Nói rõ hơn là mắt duyên sắc, tai duyên tiếng, mũi duyên mùi, lưỡi duyên vị, thân duyên cảm xúc, ý duyên pháp trần. Như vậy là tâm duyên theo bóng dáng sáu trần và cho đó là tâm thật. Ai thấy thân thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, người đó đang ở trong vô minh.



Ngài Huệ Khả thấy tâm lăng xăng làm chướng ngại việc ngồi thiền, vì Ngài ngỡ nó thật. Tổ Đạt-ma không giảng dạy gì hết, bảo đem tâm ra ta an cho. Ngài quay lại tìm tức là lấy trí tuệ soi sáng lại, xem tâm lăng xăng hiện giờ ở đâu. Khi nhìn lại kỹ nó mất tăm mất dạng, Ngài nói thật thà con tìm tâm không được. Tổ bảo ta an tâm cho ngươi rồi. Tổ Đạt-ma đã dạy ngài Huệ Khả phản quan, nhìn lại tâm lăng xăng của mình. Khi nó lăng xăng dấy động gọi là có, nhưng quay lại tìm nó không còn, tức là an rồi.



Thiền tông từ thời đức Phật truyền cho Tổ Ca-diếp mãi về sau, cho đến Tổ Đạt-ma thứ hai mươi tám truyền sang Trung Hoa. Dòng thiền này sang tới Việt Nam chúng ta được các Tổ đời Trần ứng dụng tu. Thiền đó là trực chỉ tức chỉ thẳng chớ không nói quanh co. Chỉ thẳng cái gì? Ngay nơi tâm mình, biết bóng dáng không thật dẹp bỏ nó, thì chúng ta mới thấy cái chân thật.



Người tu thiền, những phương pháp thiền khác cũng dùng phương tiện để đưa tâm tới chỗ lặng lẽ. Như thiền Nguyên thủy dùng Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Bốn pháp đó trong kinh Đại Tứ Niệm Xứ Phật cũng dạy, người nào tu Tứ niệm xứ từ một ngày tới bảy ngày, tâm không dời đổi sẽ chứng từ Tam quả A-na-hàm tới Tứ quả A-la-hán. Chủ yếu là định tâm lăng xăng lộn xộn.



Tu theo đạo Phật là cốt dừng tâm lăng xăng. Tại sao? Bởi vì tâm lăng xăng lộn xộn là hư dối, nhưng nó lại là chủ tạo nghiệp. Nếu chúng ta chạy theo nó sẽ tạo nghiệp lành, nghiệp dữ. Tạo nghiệp lành, nghiệp dữ thì đi trong luân hồi sanh tử, đi trong lục đạo địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Tâm lăng xăng theo chiều xấu thì đi xuống ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Tâm lăng xăng theo chiều tốt thì được làm người, a-tu-la hoặc trời. Còn tâm lăng xăng đối đãi là còn đi trong sanh tử. Khi nào tâm lăng xăng đối đãi lặng mất, chúng ta mới giải thoát sanh tử.



Tu muốn giải thoát sanh tử thì tâm lăng xăng phải lặng. Người đầy đủ lòng tin, đức Phật dạy niệm Phật, tin có Phật A-di-đà, tin có cõi Cực Lạc, tin mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Cực Lạc. Dùng lòng tin tha thiết đó chí tâm niệm Phật để dẹp tâm lăng xăng. Người tu thiền dùng trí quán. Theo Nguyên thủy thì quán thân này nhơ nhớp v.v… Thiền tông đi thẳng, biết gốc tạo nghiệp sanh tử luân hồi là tâm niệm lăng xăng. Bây giờ nhìn thẳng nó, nó lặng hết thì tâm an định. Tâm an định thì cái chân thật hiện tiền, đó là giải thoát sanh tử.



Thiền tông nhìn thẳng để biết tâm vọng tưởng hư giả, như vậy có pháp môn nào không? Không có pháp môn. Cho nên nói giáo ngoại biệt truyền. Nhìn thẳng bằng trí tuệ thấy vọng tưởng không thật, làm chủ được nó, lâu ngày tự nó tan biến. Tâm lăng xăng hết, nhưng cái biết tâm lăng xăng vẫn hiện tiền, đó là chỗ đặc biệt của người tu Phật. Đi sâu trong cái giả dối không thật để nhận ra cái chân thật muôn đời của mình. Nhà thiền dùng từ “Bản lai diện mục”, tức mặt thật muôn đời.



Nhìn lại tâm lăng xăng, nó tan biến gọi là phản quan tự kỷ. Đây là một pháp tu mà không có pháp gì hết, chỉ lấy trí chiếu rọi lại mình, gọi là phản quan tự kỷ. Người ta tu hay cầu được Phật xoa đầu, Bồ-tát ấn chứng v.v…, ở đây không cầu như thế. Dứt tâm lăng xăng rồi thì trí tuệ tự sáng, không cầu chi hết, nên nói không phải từ ngoài mà được. Phá tan mê lầm đó gọi là giác ngộ, dừng được tâm sanh diệt lăng xăng không còn dấy động nữa, là đi tới giải thoát sanh tử. Đường lối tu theo Thiền tông là lối tắt, lối đi thẳng chớ không quanh co, không mượn phương tiện.



Nếu ai nghiên cứu mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông, sẽ thấy lối minh họa của các Thiền sư hết sức chân xác, đúng đắn. Trong mười mục chăn trâu, mục thứ nhất là thằng chăn đi tìm con trâu. Thằng chăn là gì, con trâu là gì? Thằng chăn là Trí tuệ Bát-nhã, con trâu là tâm vọng tưởng. Mục thứ nhất thằng chăn đi tìm trâu, không thấy gì hết nhưng vẫn xách roi đi tìm. Sang mục thứ hai là từ từ thấy dấu. Thấy dấu rồi, thằng chăn tay cầm roi, tay nắm dây vàm xỏ mũi trâu dắt về.



Chỗ này người ta không hiểu làm gì? Nhà Phật dạy, người tu muốn dừng tâm lăng xăng lộn xộn thì phải dùng phương tiện. Phương tiện là gì? Là giới luật. Cư sĩ giữ năm giới, Sa-di giữ mười giới, Tỳ-kheo giữ hai trăm năm mươi giới…. Giới như sợi dây xỏ mũi kềm chế con trâu. Ngoảnh đầu bên này bị giựt lại, ngoảnh đầu bên kia bị giựt lại. Người tu giữ giới không cho phạm tức là không đi lệch ra phạm vi của mình. Vì vậy giới luật dụ như sợi dây vàm xỏ mũi con trâu. Nếu trâu hung hăng quá lôi không thèm đi, chú mục đồng phải làm sao? Có cây roi để đánh. Vậy roi và dây vàm dụ cho giới luật. Ai phạm giới luật thì phạt quì hương v.v… đó là đánh cho nhớ.



Trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ sáng suốt của mình, biết con trâu hung hăng tìm bắt, trừng phạt không cho nó chạy nữa. Ngồi thiền là chúng ta kềm chế giữ tâm không cho lộn xộn, lăng xăng. Sau khi mình giữ được như vậy rồi, lôi đầu trâu trở về, từ đó thằng chăn mới leo lên lưng cỡi. Giữ gìn kỹ một thời gian trâu thuần hòa. Bấy giờ trâu nằm dưới cội cây, thằng chăn dựa cây ngủ không cần làm gì hết, trâu cũng yên ổn. Đây là chỉ khi chúng ta theo dõi, điều phục tâm lăng xăng đến một lúc nào đó, nó sẽ hiền hòa yên lặng từ từ. Giai đoạn sau trâu mất hẳn, tức tâm lăng xăng lặng hết rồi. Đó là giai đoạn thành công thứ nhất.



Tâm lăng xăng lặng rồi bước qua giai đoạn thằng chăn cũng mất luôn. Đây là tới mục thứ tám, có một vòng tròn như mặt trăng, không còn trâu, không còn chăn. Chăn là đối với trâu, khi trâu còn hung hăng phải có chăn đuổi bắt gìn giữ để kềm chế nó. Khi trâu mất rồi, chăn còn làm gì nữa. Cũng vậy, khi tâm chúng ta lăng xăng mình nhìn nó, theo dõi nó đừng cho lăng xăng nữa. Khi nó hoàn toàn yên lặng, chúng ta còn dùng trí nhìn nó nữa không? Lúc đó trí cũng lặng. Cái bị thấy, bị phá hết thì người hay phá cũng mất luôn. Người hay phá, nhà Phật gọi là trí Bát-nhã. Do đó trâu mất thì chăn cũng không còn. Đến đây nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng, còn phải nhảy qua nữa. Như ta trèo lên cây một trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để mình trèo. Trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới được, chớ không thể tới đó là xong. Trâu, chăn không còn là tới đầu sào trăm trượng, nhảy qua khỏi đó là thể nhập Pháp thân. Trong hình vẽ mục thứ chín, lá rụng về cội, chim bay về tổ. Chúng ta có Pháp thân chân thật nhưng lâu nay quên mất. Bây giờ trở về được gọi là thể nhập Pháp thân.



Khi thể nhập Pháp thân rồi, tới mục thứ mười là ông già bụng bự, tay quảy con cá chép, tay cầm bầu rượu đi vô xóm. Để làm gì? Thể nhập Pháp thân thì có ba thân là Pháp thân, Báo thân, Ứng thân hay Hóa thân. Người thể nhập Pháp thân rồi, tùy duyên thị hiện để giáo hóa chúng sanh. Với kẻ say mê rượu chè, vị ấy tới quán rượu tìm cách gần gũi giáo hóa. Muốn nói chuyện với người uống rượu phải nhâm nhi với họ một chút. Vì vậy tay xách bầu rượu vô xóm, đây là pháp “đồng sự” trong Tứ nhiếp pháp.



Bồ-tát có đủ phương tiện, đủ hình thức thị hiện để làm lợi ích cho chúng sanh. Biết đâu trong khi các vị đang vui chơi uống rượu cũng có Bồ-tát lẫn trong ấy. Khi uống rượu, quí vị bàn kế tìm ra nhiều tiền hoặc làm việc gì không tốt, có người ngăn cản không nên làm như vậy. Đó là một hiện thân để nhắc nhở chuyển hóa những người say mê rượu chè. Thầy tu với người uống rượu không thể gần nhau được, làm sao khuyên ngăn, nên Bồ-tát phải có hình thức như vậy, gọi là Ứng thân để giáo hoá chúng sanh. Tinh thần tu Phật kỳ đặc ở chỗ đó, tuy thấy thân giả, tâm hư dối, biết rõ không mê lầm, quyết tu cho tới được giải thoát. Giải thoát rồi thì thị hiện tất cả tướng để tùy duyên hóa độ, chớ không phải tới đó thảnh thơi đi luôn, bỏ mặc ai làm gì thì làm. Đó là tinh thần tu hành của Bồ-tát.



Người tu theo Thiền tông đi tới chỗ tâm thanh tịnh không còn niệm, khi đó Trí tuệ Bát-nhã cũng buông luôn. Có người thắc mắc buông cả Trí tuệ Bát-nhã, chúng ta có ngu không? Nhiều người sợ tu thiền mãi thành khờ. Tại sao? Vì có suy tính việc này việc nọ mới khôn. Bây giờ ngồi yên, bỏ hết không nhớ nghĩ, không tính toán riết thành ngu. Tu để thành ngu, tu làm chi? Đó là vì họ không ngờ tất cả những loạn động sạch rồi, Tâm chân thật thanh tịnh sáng suốt hiện ra.



Phật dạy chúng sanh có Phật tánh hoặc Trí vô sư. Người đời quí trọng những vị học giỏi, nghiên cứu triết lý này triết lý nọ, nhưng nhà Phật không quí trí đó mà quí Trí vô sư. Vô sư là không thầy. Trí vô sư này ai được? Chính đức Phật Thích-ca đã được. Khi Ngài ngồi yên tịnh dưới cội bồ-đề trong bốn mươi chín ngày đêm, đến đêm thứ bốn mươi chín, từ canh một tới canh hai Ngài chứng được Túc mạng minh. Minh là sáng, túc là đời trước, mạng là sanh mạng. Túc mạng minh là sáng biết được sanh mạng đời trước của mình, không phải một đời mà vô số đời. Khi chứng được minh này, Ngài nói: “Ta nhớ vô số kiếp về trước như nhớ việc mới xảy ra hôm qua, rõ ràng không có chỗ sai sót.” Từ đó Ngài biết con người không phải mới có đời này, mà đã có vô số đời sanh đi tử lại tới ngày nay, vô lượng lần chớ không phải một lần.



Chúng ta không phải có mặt lần này là lần số một. Nếu lần số một thì cha mẹ thế nào sanh con y hệt thế ấy, tư tưởng cũng như thể xác đều giống nhau. Nhưng trên thực tế, tư tưởng cha mẹ khác tư tưởng con cái, cha mẹ thích nghề này con cái ưa nghề khác. Như vậy mỗi chúng sanh mang trong mình những sai biệt nên có những khuynh hướng khác nhau. Anh em ruột cũng vậy.



Từ canh hai tới canh ba, Ngài chứng được Thiên nhãn minh. Thiên nhãn minh tức con mắt Ngài thấy thấu suốt tất cả vật lớn, vật nhỏ. Nhỏ tí ti Ngài cũng thấy, xa thăm thẳm Ngài cũng thấy. Cho nên Ngài nói “trong bầu hư không này có vô số thế giới”, trong kinh dùng từ “hằng hà sa số thế giới” tức thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Độ. Phật biết vô số thế giới trong hư không mà khỏi nhìn qua kính viễn vọng. Ngài thấy vật nhỏ tí ti như vi trùng trong bát nước, nên thường dạy các thầy Tỳ-kheo, khi uống nước không có lọc phải tụng câu kệ “Phật quán nhất bát thủy, tám vạn tứ thiên trùng”, tức Phật nhìn trong bát nước thấy có tám muôn bốn ngàn vi trùng. Như vậy con mắt của Ngài thấy xa thật xa, thấy nhỏ thật nhỏ. Ngài thấy chúng sanh sau khi thân này hoại bị nghiệp dẫn đi luân hồi trong sáu đường, như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua người lại rõ ràng không nghi ngờ. Vì vậy Phật mới nói lý luân hồi nghiệp báo, để nhắc nhở mọi người biết thức tỉnh, dè dặt để đời sau đừng đọa vào những đường khổ.



Từ canh ba đến canh năm, khi sao Mai vừa mọc Ngài chứng được Lậu tận minh, tức Ngài không còn rơi rớt lại trong sanh tử hay trong tam giới nữa. Sau đó Phật đi giảng đạo, nói về pháp Tứ đế v.v… chỉ rõ nguyên nhân nào chúng ta trầm luân trong sanh tử, nguyên nhân nào thoát khỏi vòng sanh tử.



Vậy thời gian Phật ngồi dưới cội bồ-đề, Ngài học với ai, học cái gì? Không học với ai hết, chỉ định tâm cho yên lặng hoàn toàn, từ đó tự sáng lên. Đây gọi là Trí vô sư, nên Ngài nói “ta học đạo không có thầy”. Như vậy, ngồi thiền là một phương tiện để dừng tâm lăng xăng tạo nghiệp, đi tới chỗ an định hoàn toàn. Khi tâm an định hoàn toàn rồi trí tuệ vô sư hiển bày, vượt hết tất cả trí phàm tục. Biết mấu chốt đó chúng ta mới nắm vững đường tu Phật đã dạy.



Chúng ta tu Phật có hai con đường. Một là còn sanh tử, lựa sanh tử tốt tránh sanh tử xấu. Đó là đi trong ba đường lành người, a-tu-la, trời. Hai là tu giải thoát sanh tử, tức định tâm yên lặng dứt hết mầm suy tưởng, được hoàn toàn an định, Trí vô sư hiển hiện. Chừng đó chúng ta có đủ Tam thân, Tứ trí, Ngũ nhãn, Lục thông v.v… Đây là chỗ siêu thoát rất nhiệm mầu, tùy chúng ta chọn lựa. Ai muốn đi gần thì chọn lựa đường tốt. Ai muốn đi xa thì phải cố gắng tu ra khỏi sanh tử.



Như trên đã nói thân này không thật, tâm lăng xăng không thật. Chúng ta dùng trí Bát-nhã ruồng phá tâm không thật. Cuối cùng không chấp thân, không chấp tâm, buông luôn cả trí Bát-nhã, sau đó mới đi tới chỗ cứu kính chân thật. Hiện giờ quí vị biết mình có cái chân thật không? Nghe Phật nói tất cả đều giả dối, chúng ta tưởng mình không còn gì hết thì tu để làm gì? Sự thật ngay trong thân sanh diệt này, còn có cái thật hiện tiền.



Nói chữ tâm là nói đến cái biết. Cái biết dấy khởi, cái biết chạy lăng xăng là cái biết động, cái biết giả dối. Còn cái biết không dấy khởi, không lăng xăng, không hình bóng, hiện tiền mà chúng ta bỏ quên. Trong nhà Phật gọi cái biết đó là Chân tâm, Phật tánh. Như khi quí vị ngồi chơi thảnh thơi ở chỗ vắng một mình, đầu trống rỗng không niệm nghĩ suy, không tính toán gì hết, lúc đó chim kêu có nghe không, gió thổi có biết không, người qua lại có thấy không? Tất cả mọi thứ đều hiện tiền. Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn biết, cái thấy biết đó luôn sẵn có, nhưng dấy niệm lên thì quên mất, liền chạy theo niệm lăng xăng lộn xộn. Đang có cái thật mà bỏ quên, nhà Phật gọi là mê. Mê tức là quên chớ không gì lạ.



Nhà thiền luôn luôn nhắc, luôn luôn chỉ cho người tu thiền biết và nhận ra cái thật của mình. Đức Phật trên hội Linh Sơn, không thuyết pháp mà chỉ đưa cành hoa sen lên. Sau đó Ngài nhìn khắp từng người, tới Ca-diếp thì Ca-diếp nhìn lại Phật rồi mỉm cười, Phật liền bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay trao cho Ca-diếp.” Từ đó ngài Ca-diếp được truyền y bát, làm Tổ kế thừa thứ nhất.



Như vậy Phật chỉ cái gì? Đưa cành hoa sen lên rồi nhìn từng người, ai nấy đều ngơ ngác không biết Phật muốn dạy gì, tới Ca-diếp Ngài liền cười, Phật ấn chứng. Lạ quá! Bài pháp không lời. Câu kỳ đặc nhất mà lâu nay ít ai để ý tới: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm.” Chánh pháp nhãn tạng là chánh pháp từ kho con mắt. Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca-diếp nhìn, Phật nhìn lại ngài Ca-diếp, ngài Ca-diếp cười là nhận được chánh pháp từ kho con mắt. Từ kho con mắt đưa tới tâm mầu nhiệm, tâm mầu nhiệm là Niết-bàn. Do nhận được cái đó mà ngài Ca-diếp thành Tổ sư.



Tại sao từ con mắt có chánh pháp? Như bình hoa ở đây, tất cả quí vị thấy không? Ai cũng thấy. Khi quí vị thấy bình hoa có suy nghĩ không? - Không. Nếu vừa phân biệt bình hoa đẹp xấu thì có thứ khác chen vô rồi. Thấy bình hoa là bình hoa, cái thấy đó biết rõ bình hoa, nhưng vừa có bình hoa đẹp xấu, liền có niệm tiếp theo ai trưng hoa khéo quá hoặc ai trưng hoa tệ quá. Có khen có chê thì có thương có ghét, từ đó tạo nghiệp. Nếu thấy bình hoa chỉ là bình hoa thì có tạo nghiệp không? - Không. Cũng thế, ai đi ngang mình biết là người đi ngang thôi, có tạo nghiệp không? - Không. Nhưng người đi ngang khen đẹp, xấu là tạo nghiệp ngay. Cái thấy biết đó sẵn ngay nơi mắt mình, ở chặng thứ nhất thì đúng, qua chặng thứ hai, thứ ba thì sai. Bởi vì chặng thứ nhất là cái thấy thật, qua chặng thứ hai, thứ ba có tình cảm xen vô nên hết thật rồi. Có tình cảm là có tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử.



Hình ảnh Phật đưa cành hoa sen lên ngài Ca-diếp nhìn, Phật nhìn lại rồi hai thầy trò thông cảm, trong nhà thiền thường dùng từ “Tứ mục tương cố” tức bốn mắt nhìn nhau. Thầy trò nhìn thông cảm, Phật liền thọ ký. Sau này tới ngài A-nan. Khi Phật nhập Niết-bàn rồi, A-nan hỏi ngài Ca-diếp: “Sư huynh được Thế Tôn truyền y bát, ngoài ra còn truyền cái gì khác không?” Ngài Ca-diếp kêu: “A-nan!” A-nan: “Dạ.” Ngài Ca-diếp nói: “Cây phướn trước chùa ngã.” Ngay đó A-nan ngộ, được kế thừa làm Tổ thứ hai. Dễ như trở bàn tay, kêu dạ liền ngộ, được truyền làm Tổ.



Nếu tai nghe tất cả tiếng mà đừng phân biệt tiếng hay tiếng dở, lúc nào cũng nghe rõ ràng, đó là cái biết không tạo nghiệp. Cho nên kêu A-nan, Ngài dạ, đó là để chỉ cho Tánh nghe. Câu nói “cây phướn trước chùa ngã” là câu gạt chơi thôi, người không biết lo suy nghĩ cây phướn mà không nhớ Tánh nghe của mình. Ngài A-nan “dạ” và lãnh hội Tổ Ca-diếp muốn chỉ cái biết ở tai.



Như vậy ở mắt, ở tai chúng ta có Tâm chân thật hiển lộ mà mình quên, chỉ chạy theo tâm suy nghĩ. Mắt vừa thấy cảnh liền khen chê tốt xấu, tai nghe tiếng liền chạy theo phân tích tiếng hay tiếng dở. Cả ngày chúng ta chạy theo cái sanh diệt tạo nghiệp luân hồi. Nếu biết sống trở lại cái chân thật thì ra khỏi luân hồi sanh tử, ngược lại sống với tâm phân biệt lăng xăng thì trôi lăn mãi trong sáu đường, không biết bao giờ ra khỏi. Phật muốn cho chúng ta thấy cái chân thật hiện tiền của mình, nên dạy dẹp bỏ hết những thứ hư dối, đừng mê lầm nó nữa. Như vậy tu thành Phật là trở về với tâm bất sanh bất diệt thường hằng của mình.



Thiền tông đời Trần ở Việt Nam lấy phản quan tự kỷ làm bổn phận chủ yếu của người tu. Đến ngày nào tâm hoàn toàn yên lặng thanh tịnh, chừng đó sẽ giác ngộ viên mãn. Cách chỉ dạy này không khác với thiền của đức Phật chỉ dạy cho ngài Ca-diếp, thiền của Tổ Đạt-ma chỉ dạy cho Tổ Huệ Khả. Thật là một hệ thống từ đầu tới cuối nhất quán không hai.



Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ tu đúng như vậy, nên tuy còn gia đình, đầy đủ thê thiếp mà vẫn ngộ đạo. Tới giờ phút sắp lâm chung, Ngài ra Dưỡng chân trang nằm trên bộ ngựa, nhắm mắt chuẩn bị đi. Các thê thiếp nghe vậy chạy ra khóc ồn lên, Ngài mở mắt ngồi dậy bảo lấy nước rửa mặt súc miệng. Rửa mặt, súc miệng xong Ngài quở: “Ta đi có nơi về có chốn, các ngươi khóc lóc làm náo loạn chân tánh ta.” Nghe quở, quí vị ấy êm lại, Ngài nằm xuống nhắm mắt đi. Tốt chưa! Dù người cư sĩ nhưng khi nhận ra cái thật rồi, ra đi cũng thảnh thơi. Điều này cho thấy quí Phật tử còn tóc đừng ngại tu không được. Còn tóc hay cạo tóc gì miễn thực hành đúng thì kết quả như nhau.



Đó là những gì chúng tôi muốn nhắc nhở quí Phật tử, mong tất cả ghi nhớ và cố gắng thực hành để được giải thoát an vui.